Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 84/2023/HS-ST

Ngày: 15-8-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đỗ Thị A
  2. Ông Nguyễn Ngọc Thiện

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:

Bà Hoàng Tuyết Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Bích T; sinh ngày: 08/3/1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 8 Đường H, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Đ (chết) và bà: Nguyễn Thị S; Chồng: Du Thanh L (không đăng ký kết hôn); Bị cáo có 03 con, lớn sinh năm: 2009, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Ngày 29/3/2023, bị Công an Q xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, theo Quyết định số 0017750/QĐ-XPHC; nhân thân: Ngày 20/5/2015, bị Toà án nhân dân Quận 5 xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng theo Bản án số 80/2015/HSST. Ngày 29/12/2016, bị Toà án nhân dân Quận 10 xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án số 80/2015/HSST ngày 20/5/2015 của Toà án nhân dân Quận 5, bị cáo phải chấp hành chung là 01

năm 06 tháng tù theo Bản án số 215/2016/HSST. Ngày 12/9/2017, bị Toà án nhân dân Quận 3 xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt tù của Bản án số 215/2016/HSST ngày 29/12/2016 của Toà án nhân dân Quận 10 buộc chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 03 năm 06 tháng tù, theo Bản án số 110/2017/HSST. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/5/2023 tại Nhà tạm giữ Công an Q1.

(Bị cáo có mặt).

- Bị hại: Anh Vũ Văn C, sinh năm 1995 (Vắng mặt)

Địa chỉ: 0 Chung cư T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 40 ngày 26/5/2023, bị cáo Nguyễn Thị Bích T đến khu vực Chung cư T, Phường A, Quận A tìm tài sở sơ hở để trộm cắp, bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 15 giờ 58 phút cùng ngày, bị cáo T vào quán phở H Ngân cơ sở 9, địa chỉ số B Chung cư T, Phường A, Quận A. Sau đó, bị cáo T đi lên cầu thang tầng lửng của quán, giả vờ gọi cửa xem có ai trả lời không thì không có ai trả lời nên bị cáo T tiến vào bên trong phòng, nhìn thấy anh Vũ Văn C đang nằm ngủ trên chiếu và cạnh bên trái có để 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím 128 GB, trên chiếc điện thoại có để 01 đồng hồ hiệu Longines mặt vuông có dây đeo bằng da. Bị cáo đi đến gần chỗ anh C đang nằm, dùng tay phải lấy chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím 128GB và chiếc đồng hồ hiệu Longines rồi quay ra ngoài dùng tay trái vén áo, tay phải bỏ chiếc điện thoại vào trong lưng quần bên phải phía trước và bỏ đồng hồ vào lưng quần bên phải phía sau, rồi quay lại cầu thang bộ đi xuống dưới quán phở trốn thoát.

Ngày 28/5/2023, anh C đến Công an P, Quận A trình báo sự việc.

Qua rà soát, kiểm tra camera ghi hình tại khu vực Chung cư T đã ghi nhận được đối tượng nghi vấn là bị cáo Nguyễn Thị Bích T, thường trú tại 8 Đường H, Phường A, Quận A nên Công an P, Quận A đã mời bị cáo Nguyễn Thị Bích T đến trụ sở làm rõ. Tại đây, bị cáo T đã khai nhận thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của anh C, đồng thời giao nộp lại chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím 128 GB và 01 đồng hồ đeo tay nam, mặt vuông, dây da màu đen, phía trên mặt đồng hồ có chữ Longines. Công an P, Quận A đã lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 xử lý.

Tại Kết luận định giá tài sản số 1886/KL-HĐĐGTS ngày 30/5/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự Quận A, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, dung lượng 128 GB trị giá 24.000.000 đồng; 01 đồng hồ đeo tay nam, loại mặt vuông, dây da màu đen, phía trên mặt đồng hồ đề chữ Longines, trị giá 1.100.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, bị cáo Nguyễn Thị Bích T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung ghi hình của camera an ninh gắn tại Chung cư T, Phường A, Quận A và biên bản thực nghiệm điều tra.

Vật chứng vụ án:

  • 01 USB ghi hình ảnh của bị cáo T tại Chung cư T, Phường A, Quận A.
  • 01 chiếc áo khoác dài tay, màu xám là trang phục bị cáo T mặc khi phạm tội.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, chờ xử lý.

01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, dung lượng 128 GB và 01 đồng hồ đeo tay nam, loại mặt vuông, dây da màu đen, phía trên mặt đồng hồ đề chữ Longines. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã xử lý vật chứng, trả cho anh Vũ Văn C.

Về dân sự: Anh Vũ Văn C không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Tại Bản Cáo trạng số 70/CT-VKSQ10 ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

Bị cáo Nguyễn Thị Bích T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

  • Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội, bị hại và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại tài sản đã chiếm đoạt để khắc phục hậu quả) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị Bích T từ 01

năm 06 tháng đến 02 năm tù, phạt tiền 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và đề nghị xử lý vật chứng.

  • Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
  • Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng, hình ảnh Camera cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Thị Bích T đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của bị hại trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax và 01 đồng hồ đeo tay có tổng trị giá là 25.100.000 đồng. Do vậy, bị cáo Nguyễn Thị Bích T bị truy tố và xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Mặt khác bị cáo có quá trình nhân thân không tốt. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương. Ngoài ra áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung bị cáo một số tiền nộp ngân sách nhà nước.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại tài sản đã chiếm đoạt để khắc phục hậu quả. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không có gì để giải quyết.

Đối với 01 chiếc áo khoác dài tay, màu xám là trang phục bị cáo T mặc khi phạm tội. Xét thấy đây là tài sản của bị cáo T không liên quan đến việc phạm tội nhưng không có giá trị, bị cáo không đồng ý nhận lại. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu và tiêu hủy.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào khoản 1, 5 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Bích T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2023.

Phạt bổ sung 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.

Tịch thu và tiêu hủy đối với 01 chiếc áo khoác dài tay, màu xám.

(Tình trạng vật chứng Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/7/2023 giữa Công an Q1 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích T chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án;

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND Q.10; (3)
  • - Công an Q.10; (2)
  • - Chi cục THADS Q.10; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (4)
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2023/HS-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 84/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Bích Thủy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger