|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 84/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15/5/2024 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thanh Vân;
- Ông Trần Hùng Bích.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 161/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 243/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thúy V, sinh năm 1992; địa chỉ: số A, tổ A, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: số C, đường L, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Bùi Đức H, sinh năm 1991; địa chỉ: số A, tổ A, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Thúy V trình bày: Thông qua mai mối, bà V và ông Hòa kết hôn vào năm 2006, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang ngày 28/6/2006. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Bùi Đức T, sinh ngày 15/5/2017. Con chung đang được ông H nuôi dưỡng. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Sau thời gian chung sống hạnh phúc được 02 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và không còn chung sống từ tháng 07/2022 cho đến nay.
Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà V yêu cầu được ly hôn với ông H; đồng ý để ông H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Bùi Đức T, sinh ngày 15/5/2017, không cấp dưỡng nuôi con chung; không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: Trích lục kết hôn số 58/TLKH-BS, ngày 07/02/2024 do Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang cấp đối với bà Lê Thị Thúy V, ông Bùi Đức H (bản sao); Trích lục khai sinh số 124/TLKS-BS, ngày 07/7/2017 do Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang cấp đối với Bùi Đức T (bản sao).
- Bị đơn ông Bùi Đức H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
Bà Lê Thị Thúy V khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Bùi Đức H. Đồng thời, ông H cư trú trên địa bàn thành phố L. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bà V, ông H đều vắng mặt. Trong đó, bà V có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; ông H đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Cho nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà V, ông H theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
- Về hôn nhân:
Bà V và ông H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà V và ông H là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Bà V xác định, sau thời gian 02 năm chung sống, thì vợ chồng thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống và không còn chung sống với nhau từ tháng 7 năm 2022 đến nay.
Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà V và ông H thường xuyên cãi vã và không còn sống chung từ tháng 7 năm 2022 đến nay. Vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho ông H nhưng ông H không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà V. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà V và ông H là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V đối với ông H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Về con chung:
Bà V xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Bùi Đức T, sinh ngày 15/5/2017. Bà V đồng ý để ông H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T.
Xét thấy, cháu T đang được ông H chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, ông H không có ý kiến phản đối yêu cầu này của bà V. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần, Hội đồng xét xử giao cháu T cho ông H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, do ông H không yêu cầu và bà V không đồng ý cấp dưỡng nuôi dạy cháu T nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung:
Bà V xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Bà V phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông H không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
- Về hôn nhân:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thúy V.
- Về hôn nhân:
Bà Lê Thị Thúy V được ly hôn với ông Bùi Đức H.
- Về con chung:
Ông Bùi Đức H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Bùi Đức T, sinh ngày 15/5/2017. Bà Lê Thị Thúy V không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Ông Bùi Đức H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Lê Thị Thúy V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về án phí sơ thẩm:
Bà Lê Thị Thúy V phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/23/0001716 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp ngày 13 tháng 3 năm 2024; bà Lê Thị Thúy V đã nộp đủ án phí.
Ông Bùi Đức H không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bà Lê Thị Thúy V, ông Bùi Đức H có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Hiệp Phong |
Bản án số 84/2024/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 84/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Thúy Vân trình bày: Thông qua mai mối, bà Vân và ông Hòa kết hôn vào năm 2006, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Khánh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang ngày 28/6/2006. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Bùi Đức Thịnh, sinh ngày 15/5/2017. Con chung đang được ông Hòa nuôi dưỡng. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Sau thời gian chung sống hạnh phúc được 02 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và không còn chung sống từ tháng 07/2022 cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà Vân yêu cầu được ly hôn với ông Hòa; đồng ý để ông Hòa được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Bùi Đức Thịnh, sinh ngày 15/5/2017, không cấp dưỡng nuôi con chung; không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung
