Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 84/2024/DS-PT
Ngày 15/4/2024
V/v “Yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ vô hiệu”.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Việt Dũng
  • Các Thẩm phán:
    • Ông Trần Hoài Sơn
    • Bà Trần Thị Thanh Mai
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
    • Ông Huỳnh Mạnh - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 203/2023/TLPT-DS ngày 10/11/2023 về việc “Yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ vô hiệu”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 71/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 281/2023/QĐ-PT ngày 12/12/2023; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 304/QĐ-PT ngày 28/12/2023; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 33/2024/QĐ-PT ngày 23/01/2024; Quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự số 07/2024/QĐPT-DS ngày 23/02/2024; Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự số 01/2024/QĐPT-DS ngày 27/02/2024; Thông báo thời gian mở lại phiên toà số 81/2024/TB-TA ngày 04 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 134/2024/QĐ-PT ngày 28/3/2024 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ông Trần Đức D - Sinh năm: 1982 và bà Võ Thị Ánh T - Sinh năm: 1981 - Cùng địa chỉ: Tổ B phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà Võ Thị Ánh T là ông Trần Đức D - Sinh năm: 1982; Địa chỉ: Tổ B phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (Ông D có mặt).

  • * Bị đơn: Bà Trần Thị Tuyết T1 - Sinh năm: 1991 - Địa chỉ: Tổ D phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Phạm Như Q - Sinh năm: 1992 - Địa chỉ: E T, quận S, thành phố Đà Nẵng.
    2. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Phan Q1 - Sinh năm: 1995 - Địa chỉ: E T, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Theo Giấy ủy quyền ngày 11/12/2023 tại Văn phòng C). (Có mặt).

    3. Bà Nguyễn Thị Vân D1 - Sinh năm: 1985 - Địa chỉ: K N, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
    4. Ông Lê Tấn A - Sinh năm: 1981 - Địa chỉ: F T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
    5. Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu - Địa chỉ: Số C Hồ T, quận L, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).

    - Người kháng cáo: Ông Phạm Như Q và ông Lê Tấn A, là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:

- Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Trần Đức D trình bày:

Ngày 08/9/2020, tại VPCC T, bà Trần Thị Tuyết T1 có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bán cho vợ chồng ông Trần Đức D và bà Võ Thị Ánh T đối với thửa đất số 25, tờ bản đồ số 99, diện tích 100m2 tại địa chỉ Lô I khu tái định cư phía bắc Trường C1, thuộc phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng với giá là 1.600.000.000đ; bà Trần Thị Tuyết T1 đã nhận đủ tiền và bàn giao đất, bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó vợ chồng ông Trần Đức D nộp hồ sơ làm thủ tục sang tên tại Văn phòng đăng ký đất đai quận L và đã hoàn thành các nghĩa vụ đóng thuế theo quy định của pháp luật thì đến ngày 18/9/2020 ông Trần Đức D nhận được thông báo Quyết định phong tỏa đối với thửa đất trên vì có tranh chấp tại Tòa án giữa ông Lê Tấn A và bà Trần Thị Tuyết T1. Xét thấy việc làm này ảnh hưởng đến quyền lợi của vợ chồng ông Trần Đức D, nên ông Trần Đức D yêu cầu Tòa án giai quyết như sau:

Công nhận hợp đồng có hiệu lực đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại VPCC Tâm Tín, đối với thửa đất số 25, tờ bản đồ số 99, diện tích 100m², tại địa chỉ Lô I khu tái định cư phía Bắc trường C1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.

Hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2020/QĐ-BPKCTT ngày 17/9/2020 của TAND quận Liên Chiểu, về việc phong tỏa tài sản đối với thửa đất 25, tờ bản đồ 99, địa chỉ tại Lô I khu tái định cư phía Bắc trường Cao đẳng C1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.

Đối với kết quả định giá số 0131/23.07/TA/DNG/EXIMA ngày 17/07/2023 của Công ty cổ phần thẩm định giá EXIM đối với thửa đất số 25, tờ bản đồ số 99, diện tích 100m2 tại địa chỉ Lô I khu tái định cư phía Bắc trường C1, phường H, quận L, Tp Đà Nẵng, xác định giá trị lô đất là 1.800.000.000 đồng, thì ông Trần Đức D đồng ý với kết quả này và không có ý kiến gì.

* Bị đơn, bà Trần Thị Tuyết T1: Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án đã không hợp tác, không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai tại nơi cư trú của bà Trần Thị Tuyết T1, tại: Tổ D phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng theo quy định pháp luật.

* Quá trình giải quyết vụ án, Đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Như Q (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, có yêu cầu độc lập trong vụ án), là ông Huỳnh Phan Q1 trình bày:

Ngày 24/6/2020, ông Q và bà Trần Thị Tuyết T1 có ký kết Hợp đồng vay tài sản có công chứng tại Văn phòng C. Theo đó, bà T1 vay của ông Q số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), thời hạn vay 03 tháng tính từ ngày 24/6/2020, vay không lãi suất, mục đích vay dùng vào việc kinh doanh. Tuy nhiên, quá thời hạn vay, ông Q đã nhiều lần liên lạc yêu cầu bà T1 trả số tiền vay nêu trên nhưng bà T1 luôn trốn tránh, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và bỏ đi khỏi địa phương. Do đó, năm 2021, ông Q đã nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng và đến ngày 25/10/2021, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã có Bản án số: 38/2021/DS-ST V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ông Phạm Như Q và bà Trần Thị Tuyết T1.

Dựa trên Đơn yêu cầu thi hành án của ông Q, ngày 13/01/2022, Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng có Quyết định Thi hành án theo yêu cầu số 400/QĐ-CCTHADS (Sau đây gọi tắt là “Quyết định số 400”). Tại Điều 1 Quyết định số 400 có nêu rõ: “Buộc bà Trần Thị Tuyết T1 phải trả cho ông Phạm Như Q số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng chẵn); Kể từ ngày ông Phạm Như Q có đơn yêu cầu thi hành án mà bà Trần Thị Tuyết T1 không trả số tiền nêu trên thì hàng tháng bà Trần Thị Tuyết T1 phải chịu thêm khoản tiền lãi, tương với số tiền và thời gian chậm thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015; Người phải thi hành án có trách nhiệm tự nguyện thi hành án trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hoặc thông báo hợp lệ Quyết định này".

Ngày 26/8/2022, Chi cục Thi hành án Quận Liên Chiểu đã ban hành Quyết định Cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản số 30/QĐ-CCTHADS để kê biên, xử lý Thửa đất số 25, Tờ bản đồ số 99, địa chỉ: Lô I, Khu TĐC phía bắc trường Cao đẳng C1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng được Sở tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 037680 ngày 17/8/2017 cho ông Đỗ Ngọc  và bà Thái Thị Lệ T2 và ngày 25/02/2019 được Chi nhánh Văn phòng đất đai quận L chỉnh lý biến động chuyển nhượng cho bà Trần Thị Tuyết T1 để thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho ông Q theo Quyết định số 400.

Tuy nhiên, theo thông tin ông Q được biết, ngày 08/9/2020, tức thời điểm gần đến hạn trả nợ theo Hợp đồng vay tài sản ngày 24/9/2020, bà Trần Thị Tuyết T1 và ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T đã tiến hành ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 25, tờ bản đồ số 99, diện tích 100m², tại địa chỉ Lô I, Khu TĐC phía bắc trường Cao đẳng C1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (Sau đây gọi tắt là Thửa đất số 25).

Đồng thời, trước đó bà T1 cũng đã vay tiền của ông Lê Tấn A và có tranh chấp về việc trả nợ cho ông A. Trong quá trình tranh chấp thì bà T1 chuyển nhượng Thửa đất số 25 cho ông D và bà T ngày 08/9/2020.

Ngay sau đó, ông Lê Tấn A đã yêu cầu Tòa án nhân dân Quận Liên Chiểu tiến hành áp biện pháp khẩn cấp tạm thời để phong tỏa Thửa đất số 25. Đến ngày 17/9/2020, Tòa án nhân dân Quận Liên Chiểu đã ra Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2020/QĐ-BPKCTT để phong tỏa Thửa đất số 25.

Từ các căn cứ trên cho thấy, bà Trần Thị Tuyết T1 đã có hành vi chuyển nhượng Thửa đất số 25 cho ông D bà T nhằm mục đích tẩu tán tài sản, trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông Q và người khác. Hành vi này của bà T1 vi phạm quy định pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Q.

Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông Q, thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bà T1, tôi đề nghị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại Văn phòng C đối với Thửa đất số 25, Tờ bản đồ số 99, diện tích 100m², tại địa chỉ Lô I, khu TĐC phía bắc trường Cao đẳng C1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng được Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 037680 ngày 17/8/2017;

Về hậu quả pháp lý của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/9/2020 vô hiệu ông Q yêu cầu Tòa án các Bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo quy định pháp luật.

Đối với kết quả định giá số 0131/23.07/TA/DNG/EXIMA ngày 17/7/2023 của Công ty cổ phần thẩm định giá EXIM đối với thửa đất số 25, tờ bản đồ số 99, diện tích 100m2 tại địa chỉ Lô I khu tái định cư phía Bắc trường C1, phường H, quận L, Tp Đà Nẵng thì tôi đồng ý với kết quả này và không có ý kiến gì.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Vân D1 trình bày:

Tôi hiện đang là người được thi hành án theo Quyết định Thi hành án theo yêu cầu số 748/QĐ-CCTHADS ngày 23 tháng 06 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng (Sau đây gọi tắt là Quyết định số 748).

Tại Điều 1 Quyết định số 748 có nêu rõ: "Buộc bà Trần Thị Tuyết T1 phải trả cho bà Nguyễn Thị Vân D1 số tiền 1.248.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm bốn mươi tám triệu đồng chẵn); Người phải thi hành án có trách nhiệm tự nguyện thi hành án trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hoặc thông báo hợp lệ Quyết định này".

Ngày 26/8/2022, Chi cục Thi hành án dân sự Quận Liên Chiểu đã ban hành Quyết định Cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản số 30/QĐ-CCTHADS để kê biên, xử lý Thửa đất số 25, Tờ bản đồ số 99, địa chỉ: Lô đất đường K – Lộ 94 B2.5 Khu TĐC phía bắc trường Cao đẳng GTVT II, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 037680 ngày 17/08/2017 cho ông Đỗ Ngọc  và bà Thái Thị Lệ T2 và ngày 25/02/2019 được Chi nhánh Văn phòng đất đai quận L chỉnh lý biến động chuyển nhượng cho bà Trần Thị Tuyết T1 để thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho tôi theo Quyết định số 748 (Sau đây gọi tắt là Thửa đất số 25).

Ngày 03/01/2023, tôi nhận được Công văn số 01/CV-CCTHA ngày 03/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Liên Chiểu. Nội dung Công văn thể hiện trong quá trình tổ chức thực hiện cưỡng chế kê biên, xử lý đối với Thửa đất số 25 thì có nhận được Đơn đề nghị của ông Trần Đức D để ngày 05/12/2022 đề nghị ngừng thi hành án đối với Thửa đất số 25 với lý do hiện nay ông D đang khởi kiện tranh chấp Thửa đất số 25 đối với bà T1 tại Tòa án nhân dân Quận Liên Chiêu, thành phố Đà Nẵng.

Đến ngày 12/01/2023, tôi lại nhận được Quyết định Hoãn thi hành án số 06/QĐ-CCTHADS ngày 12/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Liên Chiếu. Nội dung Quyết định hoãn thi hành án đối với bà Trần Thị Tuyết T1, sinh năm 1992 với lý do nhận được Thông báo thụ lý số 243/TB-TLVA ngày 14 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng thụ lý theo Đơn khởi kiện của ông Trần Đức D.

Hiện tại, Thửa đất số 25 đã được Chi cục Thi hành án dân sự Quận Liên Chiểu tiến hành kê biên, xử lý theo Quyết định Cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản số 30/QĐ-CCTHADS ngày 26/8/2022 để thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho tôi. Tuy nhiên, ông D tiến hành khởi kiện và được Tòa án nhân dân Quận Liên Chiểu thụ lý giải quyết theo Thông báo thụ lý số 243/TB-TLVA ngày 14 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tôi.

Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tôi, tôi đề nghị Tòa án giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đức D và bà Võ Thị Ánh T và yêu câu tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020. Yêu cầu được Thi hành án theo quyết định số 748/QĐ-CCTHADS ngày 23 tháng 06 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Đối với kết quả định giá số 0131/23.07/TA/DNG/EXIMA ngày 17/07/2023 của Công ty cổ phần thẩm định giá EXIM đối với thửa đất số 25, tờ bản đồ số 99, diện tích 100m2 tại địa chỉ Lô I khu tái định cư phía Bắc trường C1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng thì tôi đồng ý với kết quả này và không có ý kiến gì.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Lê Tấn A trình bày:

Tôi là người liên quan đến trong vụ án dân sự. Nguyên đơn là ông Trần Đức D và bị đơn là bà Trần Thị Tuyết T1. Ông D khởi kiện bà T1 yêu cầu công nhận hợp đồng mua bán quyền sử dụng đất. Ông Trần Đức D và bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 ngày 8/9/2020, tại VPCC T, đối với Thửa đất số 25, Tờ bản đồ số 99, diện tích 100m², tại địa chỉ Lô I, khu TĐC phía bắc trường Cao đẳng C1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, được Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 037680 ngày 17/8/2017, thì tôi không đồng ý với yêu cầu của ông Trần Đức D đối với bà Trần Thị Tuyết T1 về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020, tại Văn phòng C.

Tôi đồng ý với yêu cầu độc lập của ông Phạm Như Q về việc yêu cầu Tòa án Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại Văn phòng C là vô hiệu.

Đối với yêu cầu hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của ông D về việc phong tỏa tài sản đối với thửa đất số 25, tờ bản đồ số 99, địa chỉ lô I khu tái định cư phía Bắc trường Cao đẳng C1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, thì tôi có ý kiến như sau:

Tôi đã nhận được Quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 01/2022/QĐ-BPKCTT ngày 25/7/2022 của TAND quận Liên Chiểu và tôi đã nhận lại toàn bộ số tiền đặt cược là 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng). Do đó, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời về việc phong tỏa lô đất thửa đất số 25, tờ bản đồ 99, diện tích 100m², địa chỉ Lô I khu tái định cư phía Bắc trường Cao đẳng C1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, mà trước đây tôi yêu cầu không còn tồn tại.

* Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu trình bày:

Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu đang thụ lý, giải quyết liên quan đến việc thi hành án của bà Trần Thị Tuyết T1, cụ thể như sau:

  1. Đối với Bản án số 69/2021/DSPT ngày 29/10/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng; Bản án số 08/2021/DSST ngày 30/03/2021 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, bà Trần Thị Tuyết T1 thi hành các khoản:
    • Buộc bà Trần Thị Tuyết T1 phải thanh toán cho ông Lê Tấn A số tiền 1.000.000.000 đồng và lãi phát sinh quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự theo Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu số 248/QĐ-CCTHADS ngày 13/12/202.
    • Thu của bà Trần Thị Tuyết T1 số tiền 42.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm Quyết định thi hành án chủ động số 282/QĐ-CCTHADS ngày 10/12/2021.
  2. Đối với Bản án số 17/2022/DSST ngày 29/6/2022 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, bà Trần Thị Tuyết T1 thi hành các khoản:
    • Buộc bà Trần Thị Tuyết T1 phải thanh toán cho ông Nguyễn Thanh L số tiền 500.000.000 đồng theo Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu số 796/QĐ-CCTHADS ngày 29/6/2022.
    • Thu của bà Trần Thị Tuyết T1 số tiền 24.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo Quyết định thi hành án chủ động số 760/QĐ-CCTHADS ngày 24/6/2022.
  3. Đối với Bản án số 18/2022/DSST ngày 09/05/2022 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, bà Trần Thị Tuyết T1 thi hành các khoản:
    • Buộc bà Trần Thị Tuyết T1 phải trả cho bà Nguyễn Thị Vân D1 số tiền 1.248.000.000 đồng theo Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu số 748/QĐ-CCTHADS ngày 23/6/2022.
    • Thu của bà Trần Thị Tuyết T1 số tiền 49.440.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đất vô hiệu theo Quyết định thi hành án chủ động số 764/QĐ-CCTHADS ngày 24/6/2022.
  4. Đối với Bản án số 38/2021/DSST ngày 25/10/2021 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, bà Trần Thị Tuyết T1 thi hành các khoản:
    • Buộc bà Trần Thị Tuyết T1 phải thanh toán cho ông Phạm Như Q số tiền 1.000.000.000 đồng và lãi phát sinh quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự theo theo Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu số 400/QĐ-CCTHADS ngày 13/01/2022.
    • Thu của bà Trần Thị Tuyết T1 số tiền 42.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo Quyết định thi hành án chủ động số 337/QĐ-CCTHADS ngày 28/12/2021.

Quá trình tổ chức thi hành án, Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu đã áp dụng biện pháp bảo đảm ban hành Quyết định về việc tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản số 46/QĐ-CCTHADS ngày 14/7/2022 đối với tài sản của bà Trần Thị Tuyết T1. Xét thấy bà Trần Thị Tuyết T1 có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành, Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu đã ban hành Quyết định về việc Cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản số 30/QĐ-CCTHADS ngày 26/8/2022 đối với tài sản đã áp dụng biện pháp bảo đảm: Thửa đất số 25, tờ bản đồ số 99, địa chỉ: Lô I, B2.5 Khu tái định cư phía bắc, trường Cao đẳng C1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 037680 do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố Đ cấp ngày 17/8/2017 cho ông Đỗ Ngọc  và bà Thái Thị Lệ T2, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại quận L chỉnh lý biến động chuyển nhượng cho bà Trần Thị Tuyết T1 vào ngày 25/02/2019 theo quy định của Luật thi hành án dân sự. Tuy nhiên, Chi cục Thi hành án dân sự quận chưa thực hiện việc cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản do tài sản trên đang có tranh chấp được Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu thụ lý theo Thông báo số 243/TB-TLVA ngày 14/12/2022.

Như vậy, bà Trần Thị Tuyết T1 phải thi hành 08 hồ thi hành án, tổng số tiền phải thi hành án: 3.905.740.000đồng. Đến thời điểm hiện tại bà Trần Thị Tuyết T1 chưa thi hành bất kỳ khoản tiền nào.

* Với nội dung vụ án như trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 71/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Áp dụng: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 116, 117, 500, 503 Bộ luật dân sự 2015;

Điều 167, 169 Luật đất đai 2013, sửa đổi bổ sung 2018;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

I. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện Ông Trần Đức D và bà Võ Thị Ánh T đối với bà Trần Thị Tuyết T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất".

  1. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại V, vào sổ công chứng số 12280511, quyền số 31 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/9/2020, đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ số 99, diện tích 100m², tại địa chỉ Lô I khu tái định cư phía Bắc trường C1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng có hiệu lực pháp luật.
  2. Ông Trần Đức D và bà Võ Thị Ánh T được quyền liên hệ với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận L, thành phố Đà Nẵng để được công nhận/chỉnh lý biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn liền trên đất đối với: thửa đất 25, tờ bản đồ 99, địa chỉ tại Lô I khu tái định cư phía Bắc trường Cao đẳng C1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 037680 do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố Đ cấp ngày 17/8/2017, chỉnh lý biến động chuyển nhượng cho bà Trần Thị Tuyết T1 vào ngày 25/02/2019) và nộp nghĩa vụ tài chính theo quy định pháp luật (nếu có).

II. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Như Q, lời trình bày của ông Lê Tấn A, và bà Nguyễn Thị Vân D1 về việc “Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa: ông Trần Đức D và bà Võ Thị Ánh T đối với bà Trần Thị Tuyết T1.

Bác yêu cầu độc lập của ông Phạm Như Q v/v Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại Văn phòng C đối với Thửa đất số 25, Tờ bản đồ số 99, diện tích 100m², tại địa chỉ Lô I, khu TĐC phía bắc trường Cao đẳng C1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.

III. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Trần Thị Tuyết T1 chịu số tiền 300.000đ. Buộc ông Phạm Như Q chịu số tiền 300.000đ, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Q đã nộp là 300.000đ, theo biên lai thu số 0000939 ngày 12.6.2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu.

Hoàn trả cho ông Trần Đức D và bà Võ Thị Ánh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai thu số 0005647 ngày 13.12.2022, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu.

IV. Về tiền xem xét thẩm định tại chỗ và tiền thẩm định giá: Số tiền 12.000.000đ, ông D bà T tự nguyện chịu (đã nộp và đã chi).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

* Sau khi xét xử sơ thẩm, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Như Q và ông Lê Tấn A có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 71/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Ông Lê Tấn A đề nghị xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm; ông Phạm Như Q đề nghị hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Phạm Như Q và ông Lê Tấn A thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị HĐXX sửa bản án sơ thẩm theo hướng tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại V, vào sổ công chứng số 12280511, quyền số 31 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/9/2020, đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ số 99, diện tích 100m², tại địa chỉ Lô I khu tái định cư phía Bắc trường C1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng vô hiệu với lý do bà Trần Thị Tuyết T1 trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát thành phố Đà Nẵng phát biểu về việc giải quyết vụ án như sau:

+ Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm là đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về quan điểm giải quyết: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Như Q và ông Lê Tấn A giữ nguyên nội dung bản án dân sự sơ thẩm số 71/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng:

[1] Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai bà Trần Thị Tuyết T1 và Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu đến tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng bà Trần Thị Tuyết T1 và Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu vẫn vắng mặt nên HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Trần Thị Tuyết T1 và Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu.

[2] Tại phiên toà phúc thẩm ông Phạm Như Q và ông Lê Tấn A đề nghị Toà án bổ sung V vào tham gia tố tụng. Tuy nhiên, tại Công văn số 511/STP-BTTP ngày 06/02/2024 của Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng có nội dung: “Khoản 2 Điều 31 Luật công chứng không có quy định về việc kế thừa quyền và nghĩa vụ của Văn phòng C bị thu hồi quyết định cho phép thành lập, Văn phòng C tiếp nhận hồ sơ công chứng của Văn phòng C”, mặt khác ông Phạm Như Q và ông Lê Tấn A đề nghị tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại V vô hiệu với lý do bà Trần Thị Tuyết T1 trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, do vậy trong trường hợp phát sinh bồi thường thiệt hại thì bà T1 có trách nhiệm bồi thường nên đề nghị của ông Phạm Như Q và ông Lê Tấn A là không cần thiết.

* Về nội dung:

Tại phiên tòa ông Phạm Như Q và ông Lê Tấn A đề nghị xét xử lại vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Như Q, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại V, vào sổ công chứng số 12280511, quyền số 31 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/9/2020, đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ số 99, diện tích 100m², tại địa chỉ Lô I khu tái định cư phía Bắc trường C1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng vô hiệu. Xét kháng cáo của các đương sự thì thấy:

[3] Đối với yêu cầu độc lập của ông Phạm Như Q, trình bày của ông Lê Tấn A bà Nguyễn Thị Vân D1 về Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại V vô hiệu:

[3.1] Ngày 01/9/2020, ông Lê Tấn A cho bà Trần Thị Tuyết T1 mượn số tiền 1.000.000.000đ, mục đích để đáo hạn ngân hàng và rút giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 25, Tờ bản đồ số 99, diện tích 100m², tại địa chỉ Lô I, khu TĐC phía bắc trường Cao đẳng C1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng để chuyển nhượng cho người khác và thỏa thuận bằng miệng là sau khi chuyển nhượng đất sẽ trả tiền cho ông Tấn A, tuy nhiên khi chuyển nhượng được đất bà T1 không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho ông Tấn A, mà ngày 08/9/2020 bà T1 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T nên ông Tấn A khởi kiện bà T1 và có đơn đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nên ngày 17/9/2020 Toà án đã ra Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là phong toả đối với thửa đất trên theo yêu cầu của ông Tấn A.

Tại bản án số 08/2021/DSST ngày 30/3/2021 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu và Bản án dân sự phúc thẩm ngày 29/10/2021 đã tuyên Buộc bà Trần Thị Tuyết T1 phải thanh toán cho ông Lê Tấn A số tiền 1.000.000.000 đồng.

Ngoài ra, tại Bản án số 38/2021/DSST ngày 25/10/2021 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã buộc bà Trần Thị Tuyết T1 phải thanh toán cho ông Phạm Như Q số tiền 1.000.000.000 đồng và lãi phát sinh quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự; tại Bản án số 18/2022/DSST ngày 09/05/2022 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã buộc bà Trần Thị Tuyết T1 phải trả cho bà Nguyễn Thị Vân D1 số tiền 1.248.000.000 đồng.

[3.2] Khoản 3 Điều 188 của Luật đất đai quy định: “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại Cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay ông D và bà T vẫn chưa đăng ký tại Cơ quan đăng ký đất đai nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại V chưa có hiệu lực.

Khoản 2 Điều Điều 75 Luật thi hành án dân sự quy định: “Trường hợp có căn cứ xác định liên quan đến tài sản thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án để yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu...".

Cũng tại Điều 24 của Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự quy định: “Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu người phải thi hành án chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và không còn tài sản nào khác hoặc tài sản khác không đủ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để thi hành án... Trường hợp đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời ... mà tài sản bị chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác thì tài sản đó bị kê biên, xử lý để thi hành án”.

[3.3] Như vậy bà T1 biết bản thân mình đang nợ tiền ông Tấn A, ông Q và bà D1 nhưng sau khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà không dùng số tiền này để trả nợ cho các khoản vay theo các bản án đã có hiệu lực pháp luật, bà T1 cũng không còn tài sản nào khác là trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, hơn nữa người nhận chuyển nhượng chính là anh ruột của bà T1 cũng không chứng minh được việc giao nhận tiền chuyển nhượng, mặt khác trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Cơ quan Thi hành án đã ra quyết định cưỡng chế thi hành án đối với thửa đất trên nên ông Q và ông Tấn A yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại V vô hiệu là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật thi hành án dân sự và Điều 24 của Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự.

[4] Đối với yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại V:

Ngày 08/9/2020, tại VPCC T, bà Trần Thị Tuyết T1 đã lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T đối với thửa đất số 25, tờ bản đồ số 99, diện tích 100m², tại Lô I, thuộc khu tái định cư phía Bắc trường C1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, với giá thực tế là 1.600.000.000₫ và các bên đã thanh toán/nhận tiền đầy đủ. Việc giao ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Công chứng viên ký và vào sổ công chứng số 12280511, quyền số 31 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/9/2020.

Như vậy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại VPCC Tâm Tín theo đúng quy định pháp luật.

Tuy nhiên, như đã nhận định trên thì hợp đồng này vô hiệu là do lỗi của bà T1, hơn nữa sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông D và bà T không làm thủ tục chỉnh lý biến động được là do Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án chứ không phải do lỗi của bà T1. Mặt khác, tại thời điểm ông D và bà T khởi kiện yêu cầu Toà án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại V thì Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này đang có hiệu lực pháp luật, do vậy ông D và bà T khởi kiện bà T1 đề nghị Toà án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại V là không có căn cứ.

Trong vụ án này không có đương sự yêu cầu xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu nên ông D và bà T có quyền khởi kiện bà T1 trả lại số tiền đã nhận cũng như bồi thường thiệt hại bằng một vụ án khác.

Như vậy, Bản án dân sự sơ thẩm đã công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại V và không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Q là không có cơ sở.

[5] Từ những phân tích trên, HĐXX thấy cần chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Như Q và ông Lê Tấn A và sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 71/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D và bà T về việc Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại V; chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Q về việc tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại V vô hiệu.

Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không được chấp nhận.

[6] Về án phí:

[6.1] Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên ông Trần Đức D và bà Võ Thị Ánh T phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông D và bà T đã nộp là 300.000đ, theo biên lai thu số 0005647 ngày 13/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
  • - Do chấp nhận yêu cầu độc lập nên bà Trần Thị Tuyết T1 phải chịu 300.000 đồng.
  • - Ông Phạm Như Q không phải chịu, hoàn trả cho ông Phạm Như Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000939 ngày 12/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

[6.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do chấp nhận kháng cáo nên ông Phạm Như Q và ông Lê Tấn A không phải chịu.

  • Hoàn trả cho ông Phạm Như Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ theo biên lai thu số 0002338 ngày 18/10/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
  • Hoàn trả cho ông Lê Tấn A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0002322 ngày 16/10/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

[7] Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định giá tài sản là 12.000.000 đồng và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ ông D bà T tự nguyện chịu. (đã nộp và đã chi).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Khoản 2 Điều 308 và Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Điều 188 Luật đất đai.
  • - Căn cứ Điều 75 Luật Thi hành án dân sự.
  • - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo của Phạm Như Q và ông Lê Tấn A. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 71/2022/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đức D và bà Võ Thị Ánh T về việc “Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại VPCC Tâm Tín đối với Thửa đất số 25, Tờ bản đồ số 99, diện tích 100m², tại địa chỉ Lô I, khu TĐC phía bắc trường Cao đẳng C1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.
  2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Như Q. Tuyên bố “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa ông Trần Đức D, bà Võ Thị Ánh T với bà Trần Thị Tuyết T1 lập ngày 08/9/2020 tại VPCC Tâm Tín đối với Thửa đất số 25, Tờ bản đồ số 99, diện tích 100m², tại địa chỉ Lô I, khu TĐC phía bắc trường Cao đẳng C1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng vô hiệu.
  3. Về án phí:
    • - Về án phí dân sự sơ thẩm:
      • +Ông Trần Đức D và bà Võ Thị Ánh T phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông D và bà T đã nộp là 300.000đ, theo biên lai thu số 0005647 ngày 13/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
      • + Bà Trần Thị Tuyết T1 phải chịu 300.000 đồng.
      • + Ông Phạm Như Q không phải chịu, hoàn trả cho ông Phạm Như Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000939 ngày 12/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
    • - Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Như Q và ông Lê Tấn A không phải chịu.
      • Hoàn trả cho ông Phạm Như Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ theo biên lai thu số 0002338 ngày 18/10/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
      • Hoàn trả cho ông Lê Tấn A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0002322 ngày 16/10/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
  4. Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định giá tài sản là 12.000.000 đồng và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ ông D bà T tự nguyện chịu. (đã nộp và đã chi).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND quận Liên Chiểu;
  • - Chi cục THADS quận Liên Chiểu;
  • - VKSND Tp. Đà Nẵng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án (1b), Tổ nghiệp vụ - Văn phòng (1b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Việt Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/DS-PT ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng qsdđ và yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng qsdđ vô hiệu

  • Số bản án: 84/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ vô hiệu
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 08/9/2020, tại VPCC T, bà Trần Thị Tuyết T1 có ký hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, bán cho vợ chồng ông Trần Đức D và bà Võ Thị Ánh T đối với thửa đất số 25, tờ bản đồ số 99, diện tích 100m2 tại địa chỉ Lô 1 khu TDC phía bắc trường C1, thuộc phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng với giá 1.600.000.000 đồng; bà T1 đã nhận đủ tiền và bàn giao đất, bàn giao GCN, sau đó vợ chồng ông D nộp hồ sơ làm thủ tục sang tên và đã hoàn thành các nghĩa vụ đóng thuế. Đến ngày 18/9/2020, ông D nhận thông báo về Quyết định phong tỏa đối với thửa đất trên vì có tranh chấp.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger