|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số 84/2024/HS-PT Ngày 14/8/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hải Minh và bà Phạm Thị Thúy Quỳnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Thái – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 59/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 29 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
1. Họ và tên: Nguyễn Đình Đ; tên gọi khác: Không; sinh ngày 20/10/1967 tại huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Tổ dân phố Y, thị trấn T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đình K, đã chết và bà Nguyễn Thị T, đã chết; có vợ Trần Thị C, sinh năm 1969 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2023 đến ngày 22/3/2023 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 bị cáo, không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2022 đến ngày 13/01/2023, Nguyễn Đình Đ đã hai lần mua pháo nổ về bán kiếm lời như sau:
- Lần thứ nhất: Khoảng cuối tháng 12/2022 (không nhớ ngày), Nguyễn Thái Đ1 gọi điện thoại cho Nguyễn Đình Đ hỏi mua pháo, mục đích để bán lại kiếm lời. Qua trao đổi, Đ đồng ý bán cho Đ1 40 cối pháo loại 36 quả/cối. Sau đó, Đ lên mạng Internet tìm số điện thoại của người bán pháo và liên hệ trao đổi với một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) đặt mua 40 cối pháo, loại 36 quả/cối với giá 800.000 đồng/01 cối, người này đồng ý và hai bên đã giao hàng, tiền cho nhau qua xe khách. Đỉnh nhận 40 cối pháo rồi đem về nhà mình ở tổ dân phố Y, thị trấn T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh cất dấu. Khoảng mấy ngày sau (không nhớ ngày cụ thể), Đ liên lạc trao đổi với Đại giá 850.000 đồng/01 cối và giao cho Đ1 40 cối pháo, loại 36 quả/cối ở khu vực cầu C đoạn thuộc huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Đ1 nhận pháo và đã thanh toán cho Đ số tiền 34.000.000 đồng. Nhận pháo xong, Đ1 đưa về nhà mình ở xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An cất dấu. Đến khoảng 12 giờ 00 phút ngày 07/01/2023, Đ1 và Nguyễn Công H ngồi uống rượu với nhau tại xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Qua nói chuyện, H hỏi mua của Đ1 20 cối pháo, Đại đồng ý và nói giá 900.000 đồng/cối, hẹn tối hôm đó sẽ giao hàng. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Đ1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu sơn đen đỏ, biển kiểm soát 37K1-750.93 chở 20 cối pháo, loại 36 quả/cối đến để ở cổng nhà H tại xóm D, xã P, huyện N, tỉnh Nghệ An rồi vào trong nhà gặp H. Đ1 nói với H pháo để ở cổng và yêu cầu H thanh toán tiền. H đã đưa cho Đại số tiền 18.000.000 đồng rồi Đ1 đi về nhà. 20 cối pháo còn lại, Đ1 đã sử dụng (đốt nổ) hết. Số tiền bán pháo, Đ và Đ1 đã sử dụng hết cho nhu cầu cá nhân.
Cũng trong tháng 7/2022 (không nhớ ngày), lúc ngồi chơi ở đám cưới, do có nhu cầu mua pháo về sử dụng dịp tết Nguyên Đán 2023 nên Nguyễn Công H hỏi mọi người có ai bán pháo không, thì có nam thanh niên tên H1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) nói có người bán và hỏi xin số điện thoại của H để liên lạc. Ngày hôm sau, có một nam thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) gọi điện cho H trao đổi và thống nhất bán cho H 07 cối pháo, loại 09 quả/cối và 06 cối pháo, loại 49 quả/cối với giá là 10.800.000 đồng. Khoảng 03 ngày sau, nam thanh niên đó đã đưa pháo đến gần nhà H rồi gọi điện thông báo cho H. H đi bộ ra nhận pháo, trả tiền và đem số pháo cất dấu ở gầm cầu thang nhà mình. Số pháo mua của Đ1, H đã sử dụng (đốt nổ) hết 14 cối, còn lại 06 cối H cất dấu tại nhà mình cùng với 13 cối mua của
nam thanh niên không quen biết nêu trên. Ngày 14/01/2023, H đến cơ quan Công an đầu thú và giao nộp toàn bộ số pháo này gồm: 06 (sáu) hộp hình hộp chữ nhật có kích thước mỗi hộp (14x14x12)cm, 07 (bảy) hộp hình hộp chữ nhật có kích thước mỗi hộp (15x15x26)cm, 06 (sáu) hộp hình hộp chữ nhật có kích thước mỗi hộp (17x17x9)cm (19 hộp), các hộp đều có hình dạng giống nhau, bên ngoài đều có gián giấy nhiều màu sắc, trên đều có ký tự, chữ nước ngoài (nghi là pháo nổ)
- Lần thứ hai: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 11/01/2023, Nguyễn Thái Đ1 gọi điện cho Nguyễn Đình Đ hỏi mua 60 cối pháo, Đ hẹn sẽ gọi điện trả lời sau. Sau đó, Đ tiếp tục sử dụng điện thoại lên mạng Internet tìm số điện thoại của người bán pháo. Đỉnh đã liên hệ, trao đổi và đặt mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) 84 cối pháo với giá 800.000 đồng/01 cối. Sau đó, hai bên đã giao nhận pháo và tiền qua xe khách, Đ đưa 84 cối pháo về nhà cất dấu. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 13/01/2023, Đ gọi cho Đ1 thông báo đã có hàng và hẹn tối sẽ đưa ra giao cho Đ1 với giá 850.000 đồng/cối, Đại đồng ý. Đến 13 giờ 00 phút cùng ngày, Đ gọi điện cho Đ1 hẹn khoảng 17 giờ ra cầu C lấy hàng. Khoảng 18 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe ô tô con nhãn hiệu Hyundai Accent, màu sơn đen, biển kiểm soát 38A-069.41 đi từ nhà mình đến cầu C, đoạn thuộc huyện N, tỉnh Hà Tĩnh đứng chờ. Một lúc sau, Đ1 đi xe ô tô tải nhãn hiệu THACO, màu sơn xanh, biển kiểm soát 37H-008.62 đến. Đỉnh và Đ1 chuyển 06 túi nilon màu đen, bên trong mỗi túi chứa 10 cối pháo, loại 36 quả/cối từ cốp xe ô tô của Đỉnh sang cabin xe ô tô của Đ1. Đ1 xin Đ sau khi bán hết hàng sẽ thanh toán tiền, Đ đồng ý rồi cả hai điều khiển xe đi về. Khi Đ1 đi về đến khu vực xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thì bị Công an huyện N phát hiện bắt quả tang, thu giữ 06 (sáu) túi nilon màu đen, bên trong mỗi túi có 10 (mười) hộp hình hộp chữ nhật có hình dạng, kích thước giống nhau, kích thước mỗi hộp (14x14x12)cm, bên ngoài có gián giấy nhiều màu sắc, trên đều có ký tự, chữ nước ngoài (nghi là pháo nổ).
Ngày 13/01/2023, Nguyễn Đình Đ ra đầu thú, ngày 14/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đ, thu giữ: 03 thùng carton màu xanh, trong mỗi thùng đều chứa 04 (bốn) hộp dạng hình hộp chữ nhật; 02 thùng carton màu xanh vàng, trong mỗi thùng đều chứa 06 (sáu) hộp dạng hình hộp chữ nhật, các hộp đều có đặc điểm hình dạng giống nhau, đều có kích thước (14x14x12)cm, bên ngoài mỗi hộp bọc giấy nilon nhiều màu sắc ghi chữ nước ngoài (nghi là pháo nổ).
Ngày 14, 15/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định:
- - 60 khối hình hộp chữ nhật có kích thước, hình dạng giống nhau, kích thước mỗi hộp (14x14x12)cm, bên ngoài có gián giấy nhiều màu sắc, trên đều có ký tự, chữ nước ngoài thu giữ của Nguyễn Thái Đ1 có tổng khối lượng là 80,2kg (T1 mươi phẩy hai kilôgam), đã lấy 08kg (Tám kilôgam) (Ký hiệu M1 đến M6) gửi đi giám định, còn lại 77,2kg (Bảy mươi bảy phẩy hai kilôgam).
- - 24 khối hình hộp chữ nhật có kích thước, hình dạng giống nhau, kích thước mỗi hộp (14x14x12)cm, bên ngoài có gián giấy nhiều màu sắc, trên đều có ký tự, chữ nước ngoài thu giữ của Nguyễn Đình Đ có tổng khối lượng là 32,4kg (Ba mươi hai phẩy tư kilôgam), đã lấy 6,7kg (Sáu phẩy bảy kilôgam) (Ký hiệu A1 đến A5) gửi đi giám định, còn lại 25,7kg (Hai mươi lăm phẩy bảy kilôgam).
- - 19 khối hình hộp chữ nhật thu giữ của Nguyễn Công H, trong đó: 06 khối có kích thước, hình dạng giống nhau, kích thước mỗi hộp (14x14x12)cm, bên ngoài có gián giấy nhiều màu sắc, trên đều có ký tự, chữ nước ngoài có tổng khối lượng là 8,2kg (T1 phẩy hai kilôgam), đã lấy 1,4kg (Một phẩy tư kilôgam) (Ký hiệu B1) gửi đi giám định, còn lại 6,8kg (Sáu phẩy tám kilôgam); 07 khối có kích thước, hình dạng giống nhau, kích thước mỗi hộp (15x15x26)cm, bên ngoài có gián giấy nhiều màu sắc, trên đều có ký tự, chữ nước ngoài có tổng khối lượng là 16,6kg (Mười sáu phẩy sáu kilôgam), đã lấy 2,4kg (Hai phẩy tư kilôgam) (Ký hiệu B2) gửi đi giám định, còn lại 14,2kg (Mười bốn phẩy hai kilôgam); 06 khối có kích thước, hình dạng giống nhau, kích thước mỗi hộp (17x17x9)cm, bên ngoài có gián giấy nhiều màu sắc, trên đều có ký tự, chữ nước ngoài có tổng khối lượng là 11,4kg (Mười một phẩy bốn kilôgam), đã lấy 2,1kg (Hai phẩy một kilôgam) (Ký hiệu B3) gửi đi giám định, còn lại 9,3kg (Chín phẩy ba kilôgam).
Tại bản kết luận giám định số 139/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 20/01/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N, kết luận: Các mẫu vật (ký hiệu từ M1 đến M6) thu giữ của Nguyễn Thái Đ1, (ký hiệu từ A1 đến A5) thu giữ của Nguyễn Đình Đ, (ký hiệu từ B1 đến B3) thu giữ của Nguyễn Công H gửi giám định đều là pháo, đều thuộc loại pháo nổ.
Bản cáo trạng số 64/CT-VKS-NL ngày 17/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Đình Đ về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo
Nguyễn Thái Đ1 về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự; Truy tố Bị cáo Nguyễn Công H về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Bản án số 07/2024/HS-ST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 190, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Đ 08 (tám) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”.
Ngoài ra, bản án còn quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thái Đ1 và Nguyễn Công H, áp dụng biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo.
Ngày 30/01/2024, bị cáo Nguyễn Đình Đ kháng cáo với nội dung: đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đình Đ xuất trình tài liệu gồm: Thông báo số 05/TB ngày 20/4/2024 của Đồn Biên phòng M thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đ xác nhận nội dung: Ngày 23/02/2024, Đồn Biên phòng M nhận được tin báo tố giác tội phạm của anh Nguyễn Đình Đ về việc có đối tượng đang có hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy, trên cơ sở đó đồn Biên phòng M kiểm tra, bắt quả tang Vàng Khua C1, sinh năm 1968; trú tại bản H, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 26/02/2024, Đồn Biên phòng M đã ra quyết định khởi vụ án và chuyển Công an huyện M điều tra theo thẩm quyền. Ngoài ra, bị cáo còn cung cấp Đơn xin trình bày của anh Hoàng Văn L; sinh năm 1964; địa chỉ: xã N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh có nội dung: ngày 27/9/2022, anh L trong lúc trông coi hồ tôm bị rơi xuống hồ, bị cuốn vào quạt sục khí hồ tôm dẫn đến gãy tay, chân, anh L kêu cứu và được anh Nguyễn Đình Đ phát hiện kịp thời, đưa đi bệnh viện cấp cứu, đơn của anh L có xác nhận của chính quyền địa phương và gửi kèm theo Bản tóm tắt hồ sơ bệnh án của Bệnh viện đa khoa tỉnh H.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình Đ, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo; căn cứ điểm c khoản 3 Điều 190, điểm s,u khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54 Bộ luật
Hình sự: xử phạt Nguyễn Đình Đ từ 06 (sáu) năm đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù.
Bị cáo Nguyễn Đình Đ không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình Đ được làm trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đình Đ thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, diễn biến hành vi phạm tội và vật chứng thu giữ trong vụ án, có căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2022 đến ngày 13/01/2023, Nguyễn Đình Đ đã 02 lần mua pháo nổ để bán lại cho người khác kiếm lời. Cụ thể:
Tháng 12/2022, Nguyễn Đình Đ bán cho Nguyễn Thái Đ1 8,2kg (tám phẩy hai kilôgam) pháo nổ với giá 5.100.000 đồng, sau đó Nguyễn Thái Đ1 bán lại số pháo này cho Nguyễn Công H với giá 5.400.000 đồng để H sử dụng.
Ngày 13/01/2023, Nguyễn Đình Đ mua 112,6kg (một trăm mười hai phẩy sáu kilôgam) pháo nổ, bán cho Nguyễn Thái Đ1 80,2kg (tám mươi phẩy hai kilôgam) với giá 51.000.000 đồng, còn lại 32,4kg (ba mươi hai phẩy bốn kilôgam) bị Công an thu giữ khi khám xét chỗ ở.
Tổng khối lượng pháo nổ mà bị cáo Nguyễn Đình Đ đã mua bán phải chịu trách nhiệm hình sự là 120,8kg (một trăm hai mươi phẩy tám kilôgam) pháo nổ.
Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 08 (tám) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm” là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Nguyễn Đình Đ: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm rất lớn cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về pháo nổ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương và gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của bản thân, gia đình và xã hội, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt như trên là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đến công an đầu thú; bị cáo được Ủy ban nhân dân xã T tặng Giấy khen vì đã có nhiều thành tích trong “Phong trào nông dân sản xuất kinh doanh giỏi Giai đoạn 2017-2022”; bố của bị cáo là Thương binh 4/4; năm 2022 bị cáo tham gia ủng hộ quỹ vì người nghèo và covid 19 tại Tổ dân phố Y với số tiền 2.000.000 đồng). Tại cấp phúc thẩm bị cáo có thêm hai tình tiết giảm nhẹ mới, cụ thể: bị cáo đã có công trong việc cung cấp tin báo, tố giác tội phạm đến Đồn Biên phòng M thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đ khi phát hiện có đối tượng đang có hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy, trên cơ sở đó đồn Biên phòng M kiểm tra, bắt quả tang Vàng Khua C1, sinh năm 1968; trú tại bản H, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 26/02/2024, Đồn Biên phòng M đã ra quyết định khởi vụ án và chuyển Công an huyện M điều tra theo thẩm quyền. Ngoài ra, trong quá trình sinh sống tại địa phương, vào ngày 27/9/2022, bị cáo đã có công trong việc cứu giúp người bị tai nạn là anh Hoàng Văn L; sinh năm 1964; địa chỉ: xã N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh trong lúc trông coi hồ tôm bị rơi xuống hồ, bị cuốn vào quạt sục khí hồ tôm dẫn đến gãy tay, chân, đưa đi bệnh viện cấp cứu kịp thời. Các tình tiết giảm nhẹ mới này được quy định tại điểm u khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa là phù hợp.
[4] Án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình Đ, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt tù cho bị cáo.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 190, điểm s,u khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự: xử phạt Nguyễn Đình Đ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2023 đến ngày 22/3/2023.
2. Án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Đình Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy Ngọc |
Bản án số 84/2024/HS-PT ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự phúc thẩm (buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 84/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Đ buôn bán hàng cấm
