TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14 - 8 - 2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chỉnh.
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Bùi Thị Nhàn.
Ông Vũ Văn Thi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Trí Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương tham gia phiên tòa:
Ông Vũ Thành Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 60/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Anh H, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: Chị T và anh H tự nguyện xây dựng gia đình với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, theo giấy chứng nhận kết hôn số 39 ngày 02/5/2012.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận đến tháng 8 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn trở lên căng thẳng nên từ tháng 3 năm 2024 chị T đã chuyển ra ngoài thuê nhà trọ sống, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi không còn quan tâm trách nhiệm với nhau. Nay chị T xác nhận: Tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng và không còn khả năng đoàn tụ do vậy chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Nam K, sinh ngày 12/12/2012 hiện đang ở với anh H, chị T đề nghị Tòa án giao con cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng cho con H bên tự thoả thuận, chị T không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết.
Tại Đơn trình bày nguyện vọng đề ngày 27/3/2024, cháu Nguyễn Nam K có nguyện vọng ở với bố nếu bố mẹ cháu ly hôn.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng đồng thời ra thông báo yêu cầu anh H có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T nhưng anh H không thực hiện.
Tiến hành xác minh tại địa phương, kết quả cho thấy: Chị T và anh H tự nguyện xây dựng gia đình với nhau năm 2012 có đăng ký kết hôn theo luật định. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng có tính cách không hợp, bất đồng quan điểm với nhau. Hiện tại chị T và anh H đã sống ly thân. Chị T và anh H có 01 con chung là Nguyễn Nam K, sinh ngày 12/12/2012 đang ở với anh H. Anh H và chị T đều có công việc, thu nhập.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng theo quy định của pháp luật, từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật, bị đơn thực hiện chưa đầy đủ quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu Tòa án thu thập đã thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị T được ly hôn với anh H.
Về con chung: Căn cứ vào các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Giao con chung Nguyễn Nam K, sinh ngày 12/12/2012 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị T không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Không đề nghị xem xét.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị T có yêu cầu khởi kiện được ly hôn với anh H có nơi cư trú tại xã H, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
[2] Về thủ tục tố tụng tại Tòa: Bị đơn anh Nguyễn Anh H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ H nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa chị Nguyễn Thị Ngọc T và anh Nguyễn Anh H tuân thủ đúng quy định tại Điều 8; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét, chị T và anh H có tính cách, quan điểm sống không hợp nhau nên cuộc sống chung không có hạnh phúc. Hiện tại H bên đã sống ly thân không còn quan tâm, trách nhiệm với nhau, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn với anh Nguyễn Anh H.
[3] Về con chung: Chị T và anh H có 01 con chung là Nguyễn Nam K, sinh ngày 12/12/2012. Chị T đề nghị Tòa án giao con cho anh H nuôi dưỡng. Xét thấy, anh H là người có việc làm, thu nhập nên có đủ điều kiện nuôi con. Thực tế, từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay anh H là người trực tiếp nuôi con, mặt khác cháu Khánh có nguyện vọng được ở bố. Do vậy việc giao con chung theo yêu cầu của chị T là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh chăm sóc nuôi dạy con, đảm bảo được quyền lợi, nguyện vọng của con cũng như quy định của pháp luật. Căn cứ vào các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Giao con chung Nguyễn Nam K, sinh ngày 12/12/2012 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng cho con: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn với anh Nguyễn Anh H.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Nam K, sinh ngày 12/12/2012 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng cho con chị T không yêu cầu giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này chị T đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0008445 ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Về quyền kháng cáo:
Chị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Anh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Chỉnh |
Bản án số 84/2024/HNGĐ-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 84/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa chị T và anh H
