Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 84/2024/HS - ST

Ngày: 14 - 5 - 2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Hồng,

Ông Mai Xuân Thường,

Bà Hồ Thị Thanh Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Cường - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Lương Đình Nam, Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2024/TLST - HS ngày 10 tháng 4 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đối với bị cáo:

Họ tên: Lô Văn T;tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 12 tháng 01 năm 2005, tại huyện C, tỉnh Nghệ An;nơi cư trú: bản Y, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lô Văn T1, sinh năm 1971 và bà Ngân Thị Q, sinh năm 1983; đều trú tại: Bản Y, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An; anh chị em ruột: Gia đình có 02 người, bị cáo là con đầu; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; vợ, con: chưa có.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Ngân Trọng T2, sinh năm 1998. (Đã chết).

Đại diện hợp pháp của bị hại:

Ông Ngân Văn T3, sinh năm 1976 và bà Vi Thị L, sinh năm 1979. Cùng địa chỉ: bản K, xã M, huyện C tỉnh Nghệ An. Là bố, mẹ đẻ của bị hại. Có mặt.

Chị Lương Thị D, sinh năm 2000; địa chỉ: bản K, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An, vợ của bị hại. Có mặt.

- Cháu Ngân Trọng T4, sinh ngày 19/12/2019, con của bị hại. Vắng mặt.

Người đại diện cho cháu T4: Chị Lương Thị D, sinh năm 2000 (mẹ đẻ của cháu T4); địa chỉ: bản K, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lô Văn T1, sinh năm 1971; địa chỉ: bản Y, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Anh Ngân Viết L1, sinh năm 1999; địa chỉ: bản K, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An. Có mặt

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị Hương L2, sinh năm 1953 - Luật sư Công ty L5 - Đoàn Luật sư tỉnh N. Có mặt.

Người làm chứng:

  1. Anh Lương Văn T5, sinh năm 1998; địa chỉ: Bản Y, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  2. Cháu Vi Thị L3, sinh ngày 29 tháng 02 năm 2010;

Người đại diện theo pháp luật cho cháu L3: Bà La Thị M, sinh năm 1986. Cùng địa chỉ: Bản Y, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

  1. Anh Vi Văn S, sinh năm 1998; địa chỉ: bản H, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  2. Anh La Văn T6, sinh năm 1991; địa chỉ: Bản Y, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ, ngày 25/12/2023 Lô Văn T đến nhà chị Hà Hồng H, sinh năm 2001, trú tại bản H, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An để dự đám vui của chị H. Đến khoảng 22 giờ 30 cùng ngày, T đi ra cổng nhà chị H lấy xe máy để về thì gặp Ngân Viết L1, sinh năm 1999 và Ngân Trọng T2, sinh năm 1998, đều trú tại bản K, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An từ nhà chị H đi ra. Do có mâu thuẫn với Ngân Viết L1 từ trước nên T chửi bới L1, L1 dùng tay đấm vào vùng mặt, đầu của T. Sau đó, được mọi người can ngăn nên T nhờ chị Vi Thị L3, sinh năm 2010 trú cùng bản chở về nhà còn L1 và anh T2 quay lại nhà chị H tiếp tục uống rượu. Khi về đến nhà, T đi vào nhà bếp lấy một con dao mẹo (con dao dài 46cm, cán dao bằng gỗ hình trụ tròn dài 16,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 29,5cm, có một lưỡi sắc, mũi dao nhọn, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 6cm) rồi giấu trong áo khoác và nhờ L3 chở quay lại nhà chị H. Khi đến đoạn đường trước nhà chị H, chị L3 dừng xe vào

trong đám cưới còn T dựng con dao ở bờ đất bên đường rồi đi vào nhà chị H. Thấy L1 đang ngồi uống rượu trong sân nhà chị H, T nói với L1: “Răng khi nại mi đập tau, mi ra đây nói chuyện cho đàng hoàng”. Sau đó T nói tiếp: “Mi ra ngoài đường tau giết”, L1 không nói gì và bỏ đi chỗ khác ngồi còn T đi ra ngoài đường đứng đợi L1 (cách vị trí đặt con dao trước đó khoảng 3 mét). Đến khoảng 23 giờ 30 cùng ngày, Ngân Viết L1 và Ngân Trọng T2 từ nhà chị H đi về. Khi ra đến cổng thì gặp T, T nắm lấy áo của L1 và nói: “Răng khi nại mi đập tau, giừ để tau đập lại mi”, L1 gạt tay T ra và nói: “Mi chưa biết tau là ai mô” đồng thời L1 chạy vào nhà gần rạp cưới lấy một con dao nhưng được mọi người can ngăn và lấy con dao đi. Lúc này, T và anh T2 xảy ra mâu thuẫn, thách thức nhau ở ngoài đường phía trước nhà chị H. Anh T2 lao đến dùng tay đánh vào vùng mặt, đầu của T, T vừa dùng tay đánh trả vừa lùi lại. Khi T lùi đến vị trí để con dao thì T cúi người xuống dùng tay trái cầm lấy con dao. Anh T2 tiếp tục lao đến đánh T thì T tránh sang bên phải, lúc này T đứng phía bên trái của anh T2, T cầm dao bằng tay trái đâm liên tiếp hai nhát vào người anh T2, một nhát đâm trúng vùng hông trái còn một nhát đâm trúng vào vùng ngực trái của anh T2. Sau khi đâm nhát thứ hai thì Lô Văn T lùi lại, vứt con dao vào bụi cây bên đường, còn anh T2 bỏ chạy được một đoạn thì bị ngã gục xuống ở mép đường. Sau đó, mọi người gọi xe cứu thương đưa anh T2 đi cấp cứu nhưng khi đến Bệnh viện Đ thì xác định anh T2 đã tử vong.

Đến 10 giờ ngày 26/12/2023, Lô Văn T đến Công an xã L, huyện C đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định nguyên nhân chết của Ngân Trọng T2.

Tại Kết luận giám định tử thi số 06/KLGĐTT – KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận nguyên nhân chết của anh Ngân Trọng T2: “Suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp do vết thương làm thủng, đứt tim, phổi và sụn sườn số 6.”.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định dấu vết sinh vật (nhóm máu) đối với mẫu máu tử thi Ngân Trọng T2, con dao và các dấu vết chất màu nâu thu giữ tại hiện trường.

Tại Kết luận giám định số 02/KL – KTHS(Đ2 – SV) ngày 09/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

  • “- Mẫu máu tử thi Ngân Trọng T2 gửi đến giám định thuộc nhóm máu B.
  • - 02 (hai) mẫu chất màu nâu thu tại hiện trường ở vị trí số 1 và số 2 gửi đến giám định đều là máu người, đều thuộc nhóm máu B.
  • - Trên con dao bám dính chất màu nâu gửi đến giám định có bám dính máu người, thuộc nhóm máu B.”

* Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:

  • - 01 (một) con dao dài 46cm, cán dao bằng gỗ hình trụ tròn dài 16,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 29,5cm, có một lưỡi sắc, mũi dao nhọn, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 6cm.
  • - 01 (một) áo khoác dài tay màu đen.
  • - 01 (một) áo sơ mi ngắn tay màu đen.

Cáo trạng số 85/CT – VKS – P2 ngày 05/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố Lô Văn T về tội: “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lô Văn T mức án từ 19 năm tù (Mười chín) đến 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Giết người”.

Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận thỏa thuận giữa đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo tại phiên tòa, buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường chi phí mai táng phí còn lại, cấp dưỡng nuôi cháu Ngân Trọng T4 mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi đủ 18 tuổi là 168.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần là 100.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng của vụ án bị thu giữ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Không tranh luận về tội danh và khung hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo vì đã khai báo thành khẩn; đầu thú; tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại;

Bị cáo Lô Văn T không có ý kiến bổ sung lời bào chữa, không có ý kiến tranh luận, chấp nhận các khoản bồi thường theo yêu cầu của gia đình bị hại tại phiên tòa; phần cấp dưỡng nuôi cháu T7, đề nghị được cấp dưỡng theo tháng. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử cho mức án nhẹ.

Đại diện hợp pháp cho bị hại không có ý kiến tranh luận. Xin Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp để bị cáo sớm được trở về.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của người làm chứng: Những người làm chứng vắng mặt không có lý do. Xét thấy những người này đã được tống đạt Giấy triệu tập hợp lệ. Bị cáo, Người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không yêu cầu hoãn phiên tòa. Những người này đã có lời khai tại hồ sơ vụ án và phù hợp với lời khai của bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ nên sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Nếu thấy cần thiết, Hội đồng xét xử sẽ công bố các lời khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử tiếp tục làm việc là đúng quy định pháp luật.

[2] Về tội danh và hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo Lô Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm tử thi; biên bản thực nghiệm điều tra; kết luận giám định; vật chứng bị thu giữ; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 21 giờ ngày 25/12/2023, Lô Văn T đến nhà chị Hà Hồng H tại bản H, xã L, huyện C thì gặp Ngân Viết L1, Ngân Trọng T2. Do mâu thuẫn với anh L1 từ trước nên T chửi bới anh L1, anh L1 dùng tay đấm T. Sau khi bị anh L1 đánh, T đi về nhà lấy một con dao mẹo (con dao dài 46cm, cán dao bằng gỗ hình trụ tròn dài 16,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 29,5cm, có một lưỡi sắc, mũi dao nhọn, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 6cm) đi đến nhà chị H, dựng con dao ở bờ đất bên đường rồi đi vào gặp anh L1 gây sự, thách thức đánh nhau với anh L1. Thấy thế, anh T2 lao đến dùng tay đánh vào mặt và đầu của T. T vừa dùng tay đánh trả và lùi lại đến vị trí để dao, cúi người xuống dùng tay trái cầm dao đâm anh T2 liên tiếp hai nhát trúng vào vùng hông bên trái và vùng ngực bên trái. Sau khi bị đâm anh T2 bỏ chạy được một đoạn thì ngã gục, được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ nhưng đã bị tử vong. Giữa bị cáo và anh T2 không quen biết nhau và không có mâu thuẫn gì, chỉ vì xích mích gây sự đánh nhau ngoài rạp đám vui của chị Hà Hồng H mà bị

cáo đã dùng dao dấu sẵn bên đường đâm liên tiếp hai phát vào hông vào ngực phía bên trái anh T2 làm anh T2 tử vong. Hành vi đó của bị cáo thể hiện tính côn đồ theo tình tiết định khung tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Bản Cáo trạng số 85/CT - VKSNA - P2 ngày 05/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố Lô Văn T về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

[3] Về tính chất của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Xét thấy, tính chất vụ án thuộc loại đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, nguy hiểm cho xã hội, coi thường tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt từ trước với anh Ngân Văn L4 mà bị cáo có những lời nói với anh L4, khi bị anh L4 dùng tay đấm vào mặt, vào đầu bị cáo được mọi người can ngăn nên bị cáo nhờ chị L3 chở về nhà. Bị cáo T khi về đến nhà đã lấy 01 con dao, dấu vào trong người và cùng chị L3 quay trở lại nhà chị H. Khi đến gần nhà chị H bị cáo đã dấu con dao bên đường. Khi gặp lại anh L4 và anh T2, giữa bị cáo và anh T2 có xảy ra mâu thuẫn, thách thức đánh nhau, bị cáo đã lấy dao dấu bên đường đâm liên tiếp hai nhát vào cơ thể anh T2, một nhát vùng hông, một nhát vào ngực trái làm anh T2 ngã xuống và tử vong.

Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”, thuộc trường hợp phạm tội có tính chất côn đồ. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm khắc. Thấy rằng, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật; khi anh T2 mất, bị cáo đang bị tạm giữ tạm giam, bố mẹ của bị cáo có đến thăm hỏi, động viên gia đình anh T2. Bị cáo đã tác động để bố mẹ của bị cáo hỗ trỡ chi phí mai táng cho gia đình bị hại 25.500.000 đồng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự.

[4] Về dân sự: Trong quá trình điều tra, chị Lương Thị D là vợ của bị hại Ngân Trọng T2 đã có lời khai là ủy quyền lại cho ông Ngân Văn T3 và bà Vi Thị L (bố mẹ của bị hại Ngân Trọng T2) giải quyết vụ việc. Ông Ngân Văn T3 và bà Vi Thị L yêu cầu Lô Văn T bồi thường số tiền là 344.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi bốn triệu đồng), cụ thể: Bồi thường chi phí mai táng: 40.000.000 đồng, gia đình bị cáo đã hỗ trợ chi phí mai táng cho gia đình bị hại 25.500.000 đồng, còn phải bồi thường tiếp 14.500.000 đồng; bồi thường tổn thất về tinh thần 150.000.000 đồng; cấp dưỡng nuôi cháu Ngân Trọng T4, sinh ngày 19/12/2019 đến khi đủ 18 tuổi: 168.000.000 đồng.

- Xét thấy: Nguyên nhân gây ra cái chết của anh Ngân Trọng T2 lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo, nên cần buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ các thiệt hại xảy ra và các yêu cầu của đại diện hợp pháp cho bị hại.

Tuy nhiên, tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo đã thỏa thuận bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần cho đại diện hợp pháp của bị hại là 100.000.0000 đồng, tiền mai tháng phí 14.500.000 đồng; tiền cấp dưỡng nuôi cháu T4 đến khi đủ 18 tuổi là 168.000.000 đồng, cấp dưỡng theo từng tháng, mỗi tháng 1.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền bị cáo phải có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại là 282.500.000 đồng (Hai trăm tám mươi hai triệu năm trăm nghìn).

Những người đại diện hợp pháp cho bị hại thống nhất cử bà Vi Thị L, mẹ đẻ của bị hại N Trọng T2 là người thay mặt nhận các khoản tiền bồi thường do bị cáo thực hiện.

Các thỏa thuận này là tự nguyện, đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Tại phiên tòa, ông Lô Văn T1 (bố của bị cáo) khai rằng, số tiền 25.500.000 đồng vợ chồng ông bỏ ra bồi thường cho gia đình bị hại là ông tự nguyện và không yêu cầu bị cáo T trả lại cho ông nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Các vấn đề khác:

Đối với chị Vi Thị L3 là người đã chở Lô Văn T về nhà lấy dao và quay lại rạp đám cưới, tuy nhiên chị L3 không biết T lấy con dao quay lại đám cưới để đánh nhau, nên không có căn cứ để xử lý.

[6] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội; 01 (một) áo khoác dài tay màu đen, 01 (một) áo sơ mi ngắn tay màu đen của bị hại, đại diện gia đình bị hại không nhận lại. Xét thấy hai chiếc áo này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lô Văn T 19 (Mười chín) năm tù về tội: “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 26/12/2023.
  2. Về Dân sự: Áp dụng Điều 584; Điều 585; Điều 591 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Lô Văn T tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho những người đại diện hợp pháp cho bị hại gồm ông Ngân Văn T3, bà Vi Thị L, chị Lương Thị D, cháu Ngân Trọng T4 do bà Vi Thị L đại diện nhận số tiền 282.500.000 đồng (Hai trăm tám

mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng). Trong đó, tiền chi phí mai táng: 14.500.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần: 100.000.000 đồng; tiền cấp dưỡng nuôi cháu Ngân Trọng T4: 168.000.000 đồng, khoản tiền cấp dưỡng được thực hiện hàng tháng, mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao dài 46cm, cán dao bằng gỗ hình trụ tròn dài 16,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 29,5cm, có một lưỡi sắc, mũi dao nhọn, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 6cm là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội; 01 (một) áo khoác dài tay màu đen, 01 (một) áo sơ mi ngắn tay màu đen không còn giá trị sử dụng. Vật chứng đang được lưu giữ tại Kho vật chứng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
  2. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lô Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm và 14.125.000 đồng (Mười bốn triệu một trăm hai mươi lăm nghìn) án phí dân sự trong hình sự.
  3. Bị cáo Lô Văn T, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM


  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan CSĐT CA t. Nghệ An;
  • - Cục THADS t. Nghệ An;
  • - Trại tạm giam CA t. Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp t. Nghệ An;
  • - Bị cáo; Đại diện hợp pháp cho bị hại; NLQ;
  • - UBND xã Lục Dạ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Thị Thúy Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS - ST ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự (giết người)

  • Số bản án: 84/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giết người
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger