Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 13.9.2024

V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN

NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Bà Phạm Thị Xuân Thi.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Tùng.

Ông Lê Anh Giàu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thái Khang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lư Ngọc Thiên An - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 253/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXX-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị O, sinh năm 1990.

Địa chỉ thường trú: 295 ấp L, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Ông Lương Ngọc H, sinh năm 1992.

Địa chỉ thường trú: 89A ấp A, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Lê Thị O có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt, ông Lương Ngọc H vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt, nguyên đơn bà Lê Thị O trình bày:

Bà và ông Lương Ngọc H đã cùng tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20/2015 tại Ủy ban nhân dân xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Trong quá trình chung sống, bà và ông H có 02 người con chung là cháu Lương Ngọc B, sinh ngày 29/10/2013 và cháu Lương Ngọc A, sinh ngày 21/01/2015. Hiện 02 cháu đang sống chung với bà.

Thời gian gần đây bà và ông H thường xuyên mâu thuẫn gay gắt. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong mọi vấn đề của cuộc sống, không có được tiếng nói chung trong mọi việc. Ông bà nhiều lần cùng ngồi nói chuyện để hàn gắn, nhưng sau đó vẫn không cải thiện được. Bà nhận thấy sự bất đồng quan điểm trong cuộc sống ngày càng gay gắt, cuộc sống vợ chồng ngày càng bất hòa, mâu thuẫn, hôn nhân không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích và kết quả hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục chung sống sẽ gây thiệt hại cho cả hai bên. Do đó, ly hôn là cách tốt nhất để có cuộc sống tự do cho mỗi người. Vì vậy, nay bà O yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho bà được ly hôn, chấm dứt tình trạng hôn nhân hiện nay. Cụ thể như sau:

Về hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Lương Ngọc H.

Về con chung: Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung là cháu Lương Ngọc B, sinh ngày 29/10/2013 và cháu Lương Ngọc A, sinh ngày 21/01/2015. Bà không yêu cầu ông Lương Ngọc H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà và ông Lương Ngọc H tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: Bà không yêu cầu ông Lương Ngọc H phải cấp dưỡng cho bà sau khi ly hôn và bà cũng không đồng ý cấp dưỡng cho ông Lương Ngọc H.

Do điều kiện công việc nên bà đề nghị được vắng mặt trong tất các các buổi làm việc của Tòa án và xin được vắng mặt trong tất cả các phiên xét xử của Tòa án.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hai triệu tập hợp lệ bị đơn ông Lương Ngọc H đến để tiến hành hòa giải nhưng đơn ông Lương Ngọc H vắng mặt và không có trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre có ý kiến:

Quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự được bảo đảm quyền và nghĩa vụ của mình đúng luật định.

Đề nghị áp dụng 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn; Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Lương Ngọc B, sinh ngày 29/10/2013 và cháu Lương Ngọc A, sinh ngày 21/01/2015 cho bà O trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận việc bà O không yêu cầu cấp dưỡng cho con; Về tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn khai không có nợ chung, tài sản chung tự thỏa thuận nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và kết quả nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Thị O khởi kiện ông Lương Ngọc H yêu cầu ly hôn nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Lương Ngọc H là bị đơn trong vụ án, có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Bến Tre nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng:

Lê Thị O có văn bản đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Ông Lương Ngọc H đã được Tòa án triệu tập để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị O và ông Lương Ngọc H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre vào ngày 15 tháng 6 năm 2015 nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo bà O trình bày, thời gian gần đây bà và ông H thường xuyên mâu thuẫn gay gắt. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong mọi vấn đề của cuộc sống, không có được tiếng nói chung trong mọi việc. Ông bà nhiều lần cùng ngồi nói chuyện để hàn gắn, nhưng sau đó vẫn không cải thiện được. Tòa án cũng đã tiến hành mở phiên hòa giải nhiều lần để tạo điều kiện cho ông bà đoàn tụ, tuy nhiên ông H vẫn cố tình không đến, điều này cho thấy ông H không có thiện chí muốn duy trì mối quan hệ vợ chồng, không quan tâm đến việc Tòa án đang giải quyết yêu cầu ly hôn của ông bà.

Điều này cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà O.

[3.2] Về con chung: ông bà có 02 con chung là cháu Lương Ngọc B, sinh ngày 29/10/2013 và cháu Lương Ngọc A, sinh ngày 21/01/2015. Hiện tại 02 cháu đang sống với bà O, bà O yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng cho con.

Hội đồng xét xử xét thấy, bà O có yêu cầu được trực tiếp nuôi con, hiện tại hai con chung đang sống với bà O, có cuộc sống học tập và sinh hoạt ổn định, hơn nữa hai con chung của ông bà là cháu Lương Ngọc B và cháu Lương Ngọc A đều có nguyện vọng muốn được sống với mẹ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của của bà O, giao hai con chung cho bà O trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời ghi nhận việc bà O không yêu cầu ông H cấp dưỡng cho con.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà O khai tài sản chung tự thỏa thuận và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho vợ, chồng sau khi ly hôn: Bà O không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3.4] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4]. Về án phí: Bà O phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch với số tiền 300.000đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị O đối với bị đơn ông Lương Ngọc H về việc tranh chấp ly hôn, cụ thể tuyên:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị O được ly hôn với ông Lương Ngọc H.

2. Về con chung: giao 02 con chung là cháu Lương Ngọc B, sinh ngày 29/10/2013 và cháu Lương Ngọc A, sinh ngày 21/01/2015 cho bà Lê Thị O trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận việc bà Lê Thị O không yêu cầu ông Lương Ngọc H cấp dưỡng cho con.

Ông Lương Ngọc H được quyền đến thăm chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì quyền và lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Bà Lê Thị O khai ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Bà Lê Thị O khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Lê Thị O phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002637 ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

6. Bà Lê Thị O và ông Lương Ngọc H vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP Bến Tre;
  • - Chi cục THADS TP Bến Tre;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - UBND xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Phạm Thị Xuân Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HNGĐ-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE về ly hôn

  • Số bản án: 84/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa bà Lê Thị O và ông Lương Ngọc H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger