|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 84/2024/HS-ST
Ngày 13-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Cà Văn Thanh
- Bà Quàng Thị Kim
- Thư ký phiên toà: Bà Cà Thị Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Tòng Thanh Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
Vũ Tuấn L, sinh ngày: 05 tháng 6 năm 1983 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Vũ Tuấn Đ, sinh năm 1944 và con bà Phạm Thị T, sinh năm 1959. Bị cáo có vợ là Vũ Thị T1, sinh năm 1984, bị cáo chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 18/5/2006 bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn La (nay là Tòa án nhân dân thành phố Sơn La) tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù về tội "Mua dâm người chưa thành niên" (đã được xóa án tích).
Ngày 24/4/2013 bị Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" (đã được xóa án tích).
Ngày 17/4/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 02 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản" (đã được xóa án tích).
Ngày 10/01/1999 bị Ủy ban nhân dân tỉnh S quyết định đưa vào trường giáo dưỡng thời gian 24 tháng (không được coi là tiền sự).
Ngày 05/7/2001 bị Ủy ban nhân dân tỉnh S quyết định đưa vào cơ sở giáo dục thời gian 24 tháng (đã chấp hành xong).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Quàng Văn H, sinh ngày: 03 tháng 7 năm 2000 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản C, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Quàng Văn L1, sinh năm 1982 và con bà Cà Thị C, sinh năm 1982. Bị cáo có vợ là Điêu Thị H1, sinh năm 2003, có 02 con con lớn nhất sinh năm 2021, con nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 45 phút, ngày 31/12/2024, tổ công tác công an xã C, thành phố S làm nhiệm vị tại thuộc khu vực tổ A, phường C, thành phố S, phát hiện Vũ Tuấn L và Quàng Văn H đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu hồng, bên trong có chứa 01 gói giấy màu hồng bên trong có chất cục bột màu trắng Hạ tự giác lấy trong túi quần đang mặc giao nộp và khai nhận là ma túy vừa mua của Vũ Tuấn L, cất giữ để sử dụng; 200.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 VNĐ có số Seri là OL10665761 và KV18627774); 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 26B1 - 429.08 số khung RLCN1DB10CY011946, số máy 1DB1011907 đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, số IMEI lần lượt là 350246957191203/01 và 353931247191207/01 vỏ màu xanh, màn hình cảm ứng, bên trong có gắn 01 sim điện thoại có số thuê bao 0339496182 trên sim có in dòng số 8984048000901654334; 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu ASIA, loại mũ không có cằm, kính màu xanh, đã qua sử dụng.
Ngày 31/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S tiến hành bóc mở niêm phong, tách bì và cân tịnh xác định khối lượng vật chứng. Kết quả: Chất cục bột màu trắng có khối lượng 0,20 gam, trích 0,08 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu H2 Còn lại 0,12 gam lưu kho ký hiệu L.
Kết luận giám định số 199/KL - KTHS ngày 03/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh S kết luận "Mẫu gửi giám định ký hiệu H là ma túy; loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,08 gam (đã sử dụng hết trong quá trình giám định); Tổng Khối lượng ma túy thu giữ là 0,20 gam loại Heroine.
Ngày 31/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã ra quyết định trưng cầu giám định số 338/QĐ-ĐCSKT-MT đối với số tiền 200.000 VNĐ thu giữ của Vũ Tuấn L. Tại kết luận giám định số 245/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận "Số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật".
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận: Ngày 08/01/2024 Vũ Tuấn L gặp một người đàn ông tự giới thiệu tên T2 hoặc T3, nhà tại xã B, huyện T, tỉnh Sơn La bán cho 01 gói ma túy, L đem về nhà cất giấu. Đến 13 giờ 00 phút ngày 31/12/2023, Quàng Văn H sử dụng điện thoại có số thuê bao 0339496182 gọi điện đến điện thoại có số thuê bao 0985817008 của Vũ Tuấn L hỏi mua ma túy. Vũ Tuấn L và Quàng Văn H hẹn nhau mua bán ma túy tại ngõ D, đường dân sinh thuộc tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vũ Tuấn L điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 26B1 - 429.08 đi từ nhà ở bản C, xã C, thành phố S đến ngõ D, đường dân sinh thuộc tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La và gọi điện cho L để mua bán ma túy. Sau khi mua được ma túy, H cất gói ma túy vào túi quần phía sau bên phải đang mặc thì bị tổ công tác công an phường C phát hiện bắt quả tang thu vật chứng như đã nêu trên.
Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ trong vụ án, L khai mua của 01 người đàn ông tự giới thiệu tên T2 hoặc T3, nhà tại xã B, huyện T, tỉnh Sơn La vào ngày 22/12/2023 sau đó bán cho H ngày 31/12/2023. Ngoài lời khai của các bị cáo không còn chứng cứ nào khác, do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố S không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án, buộc các bị cáo phải chịu toàn bộ số ma tuý thu giữ trong vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 174/CT-VKSTP ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Vũ Tuấn L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và truy tố bị cáo Quàng Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Tuấn L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Vũ Tuấn L từ 25 đến 30 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo Quàng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Quàng Văn H từ 14 đến 18 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 0,12 gam Heroine lưu kho ký hiệu L, 01 phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở và 01 mảnh nilon màu hồng, 01 gói giấy màu hồng; 01 sim điện thoại có số thuê bao 0339496182 trên sim có in dòng số 8984048000901654334; 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu ASIA, loại mũ không có cằm, kính màu xanh, đã qua sử dụng.
Tịch thu xung vào Ngân sách Nhà nước: 200.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 VNĐ có số Seri là OL10665761 và KV18627774); 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 26B1 - 429.08 số khung RLCN1DB10CY011946, số máy 1DB1011907 đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, số IMEI lần lượt là 350246957191203/01 và 353931247191207/01 vỏ màu xanh, màn hình cảm ứng.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 31/12/2023, Vũ Tuấn L đã có hành vi bán cho Quàng Văn H 0,20 gam Heroine với mục đích kiếm lợi nhuận, Quàng Văn H cất giữ trái phép 0,20 gam Heroine với mục đích để sử dụng, hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 13 giờ 45 phút ngày 31/12/2024 tại Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Vũ Tuấn L, Quàng Văn H cùng vật chứng thu giữ là 0,20 gam, kết luận giám định là Heroine.
- Lời khai nhận tội của bị cáo.
- Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 199/KL - KTHS ngày 03/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S; Kết luận giám định số 245/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của phòng K Công an tỉnh S.
- Lời khai ông Lò Văn Q (trú tại bản Khoang, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La) và ông Lê Văn C1 (trú tại tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La) là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang.
Từ các căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Tuấn L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251của Bộ luật Hình sự. bị cáo Quàng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất mức độ của hành vi:
Bị cáo Vũ Tuấn L phạm tội với tổng khối lượng 0,20gam, loại Heroine, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, cần có hình phạt tương xứng nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Bị cáo Quàng Văn H phạm tội với tổng khối lượng 0,20gam, loại Heroine, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, cần có hình phạt tương xứng nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình cần áp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Vật chứng của vụ án: Đối với 0,12 gam Heroine lưu kho ký hiệu L còn lại sau khi trừ mẫu giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành và 01 phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở và 01 mảnh nilon màu hồng, 01 gói giấy màu hồng; 01 sim điện thoại có số thuê bao 0339496182 trên sim có in dòng số 8984048000901654334; 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu ASIA, loại mũ không có cằm, kính màu xanh, đã qua sử dụng không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 200.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 VNĐ có số Seri là OL10665761 và KV18627774) là tiền do phạm tội mà có; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 26B1 - 429.08 số khung RLCN1DB10CY011946, số máy 1DB1011907 đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, số IMEI lần lượt là 350246957191203/01 và 353931247191207/01 vỏ màu xanh, màn hình cảm ứng là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, cầm tịch thu xung vào Ngân sách Nhà nước.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Tuấn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Tuấn L 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2023.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Quàng Văn H 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu tiêu huỷ: 0,12 gam Heroine lưu kho ký hiệu L, 01 phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở và 01 mảnh nilon màu hồng, 01 gói giấy màu hồng; 01 sim điện thoại có số thuê bao 0339496182 trên sim có in dòng số 8984048000901654334; 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu ASIA, loại mũ không có cằm, kính màu xanh, đã qua sử dụng.
Tịch thu xung vào Ngân sách Nhà nước: 200.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 VNĐ có số Seri là OL10665761 và KV18627774); 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 26B1 - 429.08 số khung RLCN1DB10CY011946, số máy 1DB1011907 đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, số IMEI lần lượt là 350246957191203/01 và 353931247191207/01 vỏ màu xanh, màn hình cảm ứng, là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, cầm tịch thu xung vào Ngân sách Nhà nước.
ứng. (Được niêm phong trong 02 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 0070146 và 086171 của Công an thành phố S).
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/5/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Vũ Tuấn L và Quàng Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/6/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Bích Hồng |
Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về hình sự
- Số bản án: 84/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Đức Lợi - Quàng Văn Hạ
