Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HSST

Ngày: 12/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Định;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Đắc Hà và ông Nguyễn Tiến Dũng

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Ân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đàm Duy Thức - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 12/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 80/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 26/7/2024 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm 1996; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam. Nơi ĐKHKTT và cư trú tại: Thôn T, xã T, huyện M, Thành phố Hà Nội; trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Bố đẻ: Trần Văn H, sinh năm 1972; mẹ đẻ: Nguyễn Thị X, sinh năm 1975; vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Theo danh chỉ bản số 190 lập ngày 13 tháng 4 năm 2024 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 06/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 01 – Công an thành phố H, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Minh Đ, sinh năm 1986; vắng mặt.

Trú tại: Thôn Y, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

* Người làm chứng: Anh Bùi Tiến Đ1, sinh năm 2000; vắng mặt.

Trú tại: Thôn Y, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

* Người chứng kiến: Anh Trần Văn L, sinh năm 1960 – Trưởng thôn Thọ Lão, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

Trú tại: Thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi trưa ngày 30/3/2024, T một mình từ nhà tại thôn T, xã T, huyện M đi nhờ xe đến khu vực thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc để mua ma túy. Tại đây, T gặp và hỏi mua của một người đàn ông (không biết tuổi, địa chỉ cụ thể) được 01 túi ma túy tổng hợp đá với giá 500.000 đồng và 01 gói ma túy Heroine với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy T đem về nhà mình tại thôn T, xã T, huyện M. Tại đây, T chia gói ma túy Heroine thành 03 gói nhỏ mục đích để bán kiếm lời; còn số ma túy đá, T đã sử dụng hết. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 06/04/2024, Bùi Minh Đ rủ cháu là Bùi Tiến Đ1 (sinh năm 2000; trú tại thôn Y, xã T, huyện M) đi xuống xã T, huyện M chơi. Khi đi đến thôn T, xã T, Đ sử dụng điện thoại số 0902.232.xxx gọi vào điện thoại số 0967.027.xxx của T và hỏi mua 03 gói ma túy Heroine. Hai bên thỏa thuận 03 gói Heroine giá 900.000 đồng và hẹn giao dịch mua bán ma túy tại cổng nhà Văn hóa thôn T, xã T. Khi gọi điện Đ không nói cho Đ1 biết là đi mua ma túy. Đến khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày hai bên gặp nhau, Đ đưa cho T số tiền 900.000 đồng, T cầm tiền đang chuẩn bị giao ma túy cho Đ thì bị Công an xã T phối hợp với Công an xã T phát hiện bắt quả tang.

Ngày 06/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn T tại thôn T, xã T, huyện M, Hà Nội, kết quả: không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì khác liên quan đến vụ án.

* Vật chứng vụ án:

Quá trình bắt giữ các đối tượng và điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng, đồ vật, tài sản liên quan gồm:

- Thu giữ của Trần Văn T:

  • + 03 gói giấy đều chứa chất bột màu trắng nghi là ma tuý Heroine.
  • + 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, số IMEI 1: 353834105193911, số IMEI 2: 353834105236660 bên trong máy lắp thẻ sim số: 0967.027.771.
  • + Số tiền 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng).

- Thu giữ của Bùi Minh Đ:

  • + 01 chiếc điện thoại Iphone 5S, màu xám đen, số IMEI: 358843052484236, bên trong máy lắp thẻ sim số: 0902.232.803.

Tại Kết luận giám định số 2686/KL-KTHS ngày 15/04/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:

- Chất bột màu trắng bên trong 03 gói giấy màu trắng (ngoài bọc gói giấy màu vàng) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 0,335 gam.

Quá trình giám định, Cơ quan giám định đã lấy mẫu trong phong bì là 0,070 gam làm mẫu giám định, phần còn lại là 0,265 gam ma túy loại Heroine, hoàn trả Cơ quan điều tra để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Bùi Minh Đ, quá trình điều tra, xác định: Ngày 06/4/2024, khi Đ hỏi mua ma túy nhưng chưa nhận được H1 từ Tuyền thì bị phát hiện bắt quả tang; xét nghiệm nước tiểu của Đ âm tính với các chất ma túy nên Cơ quan điều tra không

đủ căn cứ xử lý Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy cũng như xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với Bùi Tiến Đ1 là người đi cùng Đ, khi đi Đ không bàn bạc, không nói cho Đ1 biết là đi mua ma túy; bản thân Đ1 cũng không được hưởng lợi gì từ việc mua bán ma túy; xét nghiệm nước tiểu của Đ1 âm tính với các chất ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho Trần Văn T ngày 30/3/2024, tại thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 80/CT-VKS ngày 28/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh đã truy tố: Trần Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Đại điện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Xử phạt Trần Văn T từ 30 đến 36 tháng tù.

-Về vật chứng:

  • + Tịch thu tiêu hủy:
  • - 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,265 gam ma túy loại Heroin;
  • + Tịch thu sung quỹ nhà nước: Số tiền 900.000 đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, số IMEI 1: 353834105193911, số IMEI 2: 353834105236660 bên trong máy lắp thẻ sim số: 0967.027.771 và 01 chiếc điện thoại Iphone 5S, màu xám đen, số IMEI: 358843052484236, bên trong máy lắp thẻ sim số: 0902.232.803.
  • + Trả lại cho bị cáo số tiền 200.000 đồng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với lời khai người làm chứng, người chứng kiến; phù hợp với vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đầy đủ cơ sở để xác định: Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 06/4/2024, tại thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, Trần Văn T đã có hành vi bán trái phép 0,335 gam ma túy loại Heroine cho Bùi Văn Đ2 với giá 900.000 đồng thì bị Công an xã T phối hợp với Công an xã T, huyện M phát hiện bắt quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số: số 2686/KL-KTHS ngày 15/04/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:

- Chất bột màu trắng bên trong 03 gói giấy màu trắng (ngoài bọc gói giấy màu vàng) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 0,335 gam.

Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Trần Văn T đã phạm vào tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Cụ thể: Điều 251 quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tiếp tay cho các đối tượng mua bán và sử dụng trái phép chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây bức xúc và nhức nhối trong quần chúng nhân dân, bị xã hội lên án mạnh mẽ; là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác như giết người, cướp tài sản và gây ra nhiều tệ nạn xã hội khác, đây cũng là nguyên nhân chính lây lan căn bệnh HIV-AIDS. Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách, pháp luật để ngăn chặn nhưng loại tội phạm này không những không giảm mà vẫn ngày càng có chiều hướng gia tăng. Do đó, cần xét xử hành vi của bị cáo thật nghiêm minh mới có tác dụng răn đe bị cáo và góp phần vào việc đấu tranh, phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm về ma túy.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng cho bản thân ham chơi nghiện ma túy và phạm tội mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời phục vụ nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người có ý thức kém, coi thường pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn, nhận thức được hành vi sai trái của mình nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, chiếu cố giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt, điều đó thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật nhà nước ta. Tuy nhiên xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người tốt, người có ích cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, cần được xem xét để đưa ra mức hình phạt phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự ngoài hình phạt chính có thể phạt bị cáo hình phạt bổ sung một khoản tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Nhưng xét thấy, bị cáo là đối tượng nghiện, không có thu nhập ổn định, bị cáo bán ma túy với mục đích kiếm lời để mua ma túy phục vụ nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân nên miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,265 gam ma túy loại Heroinlà tang vật của vụ án cần tịch thu để tiêu hủy.
  • - Số tiền 900.000 đồng là tang vật của vụ án nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • - Số tiền 200.000 đồng không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo là chủ sở hữu là phù hợp.
  • - 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, số IMEI 1: 353834105193911, số IMEI 2: 353834105236660 bên trong máy lắp thẻ sim số: 0967.027.771 và 01 chiếc điện thoại Iphone 5S, màu xám đen, số IMEI: 358843052484236, bên trong máy lắp thẻ sim số: 0902.232.803 là phương tiện để liên lạc khi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[7] Các vấn đề khác:

  • - Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Trần Văn T tại khu vực thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc ngày 30/3/2024: Quá trình điều tra, không xác định được tên họ, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật. Vì vậy Hội đồng xét cử không xem xét.
  • - Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 06/4/2024.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 89; 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,265 gam ma túy loại Heroin;
  • + Tịch thu sung quỹ nhà nước: Số tiền 900.000 đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, số IMEI 1: 353834105193911, số IMEI 2: 353834105236660 bên trong máy lắp thẻ sim số: 0967.027.771 và 01 chiếc điện thoại Iphone 5S, màu xám đen, số IMEI: 358843052484236, bên trong máy lắp thẻ sim số: 0902.232.803.
  • + Trả lại cho bị cáo số tiền 200.000 đồng.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/ 7/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện M và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh).

3. Về án phí: Áp dụng điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”: Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan của bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã, phường nơi người đó cư trú.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Định

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HSST ngày 12/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 84/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị Cáo Tuyền tàng trữ ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger