Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/DS-ST

Ngày: 12 - 6 - 2024

V/v: “Tranh chấp về dân sự quyền sử

dụng đất và đòi lại tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tinh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Vững.

2. Ông Nguyễn Văn Ánh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Tấn Đạt - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Tháp Mười.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên

tòa:

Ông Trần Xuân Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 1090/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2023, về việc “Tranh chấp về dân sự quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2024/QĐST-DS ngày 03/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 140/2024/QĐST-DS ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Huỳnh Thị X, sinh năm 1948.

Địa chỉ: Khóm D, TT. M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Huỳnh Thị X là: Ông

Dương Nhật Đ, sinh năm 1987, địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Số điện thoại: 0369.059.xxx.

- Bị đơn: Ngô Hoàng K, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Khóm D, TT. M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị X1, sinh năm 1962. (mẹ anh K)
  2. Ngô Tấn M, sinh năm 1969. (con bà X, ông S)
  3. Ngô Thị N, sinh năm 1967. (con bà X, ông S)
  4. Ngô Thị D, sinh năm 1970. (con bà X, ông S)
  5. Ngô Văn L, sinh năm 1978. (con bà X, ông S)

Cùng địa chỉ: Khóm D, TT. M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Anh Đ, anh K, bà X1 có mặt; ông M, bà N, bà D, ông L có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Anh Đ là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Huỳnh Thị X trình bày:

Nguyên bà X là vợ của ông Ngô Văn S1 (qua đời vào năm 2018), trước đây vào năm 1975 cha chồng bà xinh là ông Ngô Văn S2 (Chết vào năm 2001) có cho vợ chồng bà X một miếng đất cất nhà ở, phần đất có chiều ngang 10m, chiều dài 22m, diện tích 220m². Vợ chồng bà X cất nhà ở từ năm 1975 đến nay. Phần đất nay thuộc thửa số 50, tờ bản đồ số 90, diện tích 487,0m², Loại đất: Đất ở tại đô thị, hiện nay do Ngô Hoàng K đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Phần đất cha chồng bà X cho vợ chồng bà X cất nhà ở nhưng chưa tách quyền sử dụng đất và sau đó em chồng bà X là Ngô Văn Ú đứng tên phần đất trên, ông Ú nói đứng tên đất xong sẽ tách lại cho vợ chồng bà X.

Thời gian này do cuộc sống khó khăn nên vợ chồng bà X bỏ qua luôn để lo làm mưu sinh và cứ nghĩ đất mình đang ở thì từ từ làm giấy đất cũng được nên kéo dài đến nay.

Sau đó em chồng bà X là ông Ngô Văn Ú chết nên anh Ngô Hoàng K con ông Ú mới đi làm thừa kế phần đất trên bao gồm cả phần đất chưa tách cho bà X, khi đó chồng bà X là ông Ngô Văn S1 có nói chuyện với gia đình ông Ú thì vợ ông Ú là bà Nguyễn Thị X1 hẹn lần lược không thực hiện cho đến khi chồng bà X chết năm 2018 nhưng gia đình K cũng vẫn chưa tách quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà X.

Cuộc sống gia đình bà X rất khó khăn đó là nền nhà duy nhất bà X có và hiện nay nhà đã xuống cấp nhưng vẫn không dám sửa lại bởi bà X chưa có giấy đất thì không đăng ký cất nhà được.

Đến cuối năm 2022 bà X mới làm đơn nhờ Tổ hòa giải Khóm D, thị trấn M nhờ xem xét giúp đỡ cho bà X, tại cuộc hòa giải ngày 02/12/2022 thì anh K đồng ý tách bộ sang tên cho bà X phần đất trên (Có biên bản hòa giải). Nhưng khi bà X liên hệ Công ty TNHH Đ1 xuống đo đạc thì bà X1 mẹ anh K không cho đo đạc đất và không cho anh K tách bộ sang tên cho bà X mà bà yêu cầu bà X đưa tiền cho bà vì trước đây bà X1 nói phần đất cây lâu năm bà đã lên thổ nên buộc bà X trả tiền cho bà X1 nhưng giá bà X1 nói tính theo giá đất thị trường, hiện nay bà X già yếu không làm ra tiền cuộc sống lại khó khăn nên bà X làm gì có tiền để đưa cho bà X1 và bà X1 cũng biết nên cố tình làm khó gia đình bà X trong khi phần đất trên anh K đứng tên chứ không phải bà X1.

Bà X có làm đơn nhờ Ủy ban nhân dân thị trấn M giải quyết nhưng không thành, anh K đồng ý tách phần đất cho bà X nhưng yêu cầu bà X trả tiền lên thổ cho anh K theo giá đất thổ hiện hành.

Theo đơn khởi kiện, bà Huỳnh Thị X yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc anh Ngô Hoàng K tách quyền sử dụng đất cho bà X phần đất có chiều ngang khoảng 10m, chiều dài 22m, diện tích khoảng 220m², đất thuộc một phần thửa số 50, tờ bản đồ số 90, đất tọa lạc tại Khóm D, TT. M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, do anh Ngô Hoàng K đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Biên bản hòa giải thành ngày 02/12/2022 của Ban N1, TT. M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Tuy nhiên, qua đo đạc thực tế thì diện tích có thay đổi nên anh Đ là đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Thị X xin thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: Bà X yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Ngô Hoàng K phải sang tên tách bộ cho bà diện tích đất nằm trong phạm vi các mốc từ mốc M1 đến M2, M3, M4 trở lại M1 có diện tích 178,2m², theo Sơ đồ đo đạc ngày 23/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, thuộc một phần thửa số 50, tờ bản đồ số 90, loại đất ở tại đô thị, đất tọa lạc tại Khóm D, TT. M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Ngoài ra, bà X không có yêu cầu gì khác.

Bà X khẳng định hàng thừa kế thứ nhất của ông Ngô Văn S1 chỉ có bà và các con ruột tên Ngô Tấn M, Ngô Thị N, Ngô Thị D và Ngô Văn L. Ngoài ra, ông S1 không còn con nuôi hay con riêng nào khác. Đồng thời, các con của bà X cũng thống nhất giao cho bà X toàn quyền quyết định trong vụ án này và đồng ý cho bà X đứng tên cá nhân phần đất đang tranh chấp với anh K, nếu sai trái bà X sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Đối với căn nhà và các cây trồng trên đất là của bà X và bà cũng không tranh chấp gì.

Đối với án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc thì phía bà X sẽ tự nguyện chịu.

* Bị đơn Ngô Hoàng K trình bày:

Anh K đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà X, nhưng anh K yêu cầu bà X phải trả lại tiền mà gia đình anh đã chuyển đổi mục đích phần đất tranh chấp từ đất cây lâu năm lên đất thổ. Do phía bà X không đồng ý nên anh K có làm đơn yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Huỳnh Thị X phải trả tiền đất lên thổ lại cho anh với giá 1.800.000 đồng/m² x 178,2m² = 320.760.000 đồng (ba trăm hai mươi triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).

Đối với phần đất tranh chấp thì từ trước đến nay là do bà X quản lý, sử dụng, anh K không có công sức đầu tư, cải tạo gì trên phần đất này.

Hiện bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh K đang cất giữ, không có cầm cố hay thế chấp cho ai. Đây là tài sản của cá nhân anh K.

Đối với căn nhà và các cây trồng trên đất là của bà X nên anh K cũng không có tranh chấp.

Tại phiên tòa sơ thẩm, cụ thể là tại phần thủ tục hỏi và trả lời tại phiên tòa, anh K đã xin Hội đồng xét xử cho anh được rút lại toàn bộ yêu cầu phản tố, không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này có chứng cứ thì anh sẽ khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị X1 trình bày:

Bà X1 thống nhất theo ý kiến của anh K. Trong vụ án này, bà không có tranh chấp hay yêu cầu gì, giao cho anh K toàn quyền quyết định vì phần đất đang tranh chấp với bà X thì gia đình đã thống nhất cho cá nhân anh K được đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

* Đối với ông Ngô Tấn M, bà Ngô Thị N, bà Ngô Thị D và ông Ngô Văn L thống nhất với ý kiến của bà X và có đơn xin vắng mặt.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Tòa án cho công bố công khai tại Phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 05/4/2024 của Tòa án huyện T và tại phiên tòa sơ thẩm. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm các đương sự cũng đã được tiếp cận và không có ý kiến, yêu cầu hay khiếu nại gì.

* Các tình tiết và sự kiện mà các đương sự đã thống nhất được:

Bị đơn Ngô Hoàng K thống nhất sang tên tách bộ cho bà Huỳnh Thị X diện tích đất nằm trong phạm vi các mốc từ mốc M1 đến M2, M3, M4 trở lại M1 có diện tích 178,2m², theo Sơ đồ đo đạc ngày 23/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, thuộc một phần thửa số 50, tờ bản đồ số 90, loại đất ở tại đô thị, đất tọa lạc tại Khóm D, TT. M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

* Các tình tiết và sự kiện mà các đương sự không thống nhất được:

Không có.

* Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng, anh K, bà X1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không có lý do.

- Về nội dung vụ án: Xét thấy, tại phiên tòa anh K đã đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà X nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Anh K tự nguyện rút yêu cầu phản tố của anh nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử yêu cầu phản tố của anh K theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thị X yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Ngô Hoàng K phải sang tên tách bộ cho bà Huỳnh Thị X diện tích đất nằm trong phạm vi các mốc từ mốc M1 đến M2, M3, M4 trở lại M1 có diện tích 178,2m², theo Sơ đồ đo đạc ngày 23/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, thuộc một phần thửa số 50, tờ bản đồ số 90, loại đất ở tại đô thị, đất tọa lạc tại Khóm D, TT. M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Bị đơn Ngô Hoàng K có đơn yêu cầu phản tố yêu cầu bà X phải trả tiền đất lên thổ số tiền 320.760.000 đồng. Ngoài ra, các đương sự khác trong vụ án không còn tranh chấp nội dung nào khác. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về dân sự quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản” theo quy định tại khoản 24 Điều 3 của Luật Đất đai, khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 166 của Bộ luật Dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền, xét thấy: Tranh chấp giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 203 của Luật Đất đai. Phần đất hiện đang tranh chấp tọa lạc tại Khóm D, TT. M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về tư cách đương sự và giao nộp tài liệu, chứng cứ:

Các đương sự thống nhất Tòa án đã đưa đầy đủ những người có liên quan đến nội dung vụ án vào tham gia tố tụng, không còn thiếu ai. Đồng thời, các đương sự thống nhất không còn tài liệu, chứng cứ nào để giao nộp cho Tòa án cũng như không yêu cầu Tòa án triệu tập thêm người làm chứng. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

[1.4] Về xét xử vắng mặt:

Xét thấy, tại phiên tòa chỉ có mặt anh Đ, anh K, bà X1, còn những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác có đơn xin xét xử vắng mặt. Đồng thời, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.5] Về việc thay đổi và rút yêu cầu.

[1.5.1] Theo đơn khởi kiện, bà Huỳnh Thị X yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu anh Ngô Hoàng K tách quyền sử dụng đất cho bà phần đất có chiều ngang khoảng 10m, chiều dài khoảng 22m, diện tích 220m², đất thuộc một phần thửa số 50, tờ bản đồ số 90, loại đất ở tại đô thị, đất tọa lạc tại Khóm D, TT. M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, do anh Ngô Hoàng K đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà X được đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, qua đo đạc thực tế lại phần đất tranh chấp vào ngày 23/5/2023 thì diện tích phần đất tranh chấp có thay đổi, nhưng về phạm vi, vị trí (tứ cận) đất tranh chấp không có gì thay đổi nên anh Đ là người đại diện theo ủy quyền của bà X xin thay đổi yêu cầu khởi kiện cho đúng thực tế như sau:

Nay, bà Huỳnh Thị X yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Ngô Hoàng K phải sang tên tách bộ cho bà Huỳnh Thị X diện tích đất nằm trong phạm vi các mốc từ mốc M1 đến M2, M3, M4 trở lại M1 có diện tích 178,2m2, theo Sơ đồ đo đạc ngày 23/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, thuộc một phần thửa số 50, tờ bản đồ số 90, loại đất ở tại đô thị, đất tọa lạc tại Khóm D, TT. M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của anh Đ là hoàn toàn tự nguyện, không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu và không vượt phạm vi được ủy quyền và các đương sự khác không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.5.2] Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Ngô Hoàng K có đơn yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Huỳnh Thị X phải trả tiền đất lên thổ lại cho anh với giá 1.800.000 đồng/m² x 178,2m² = 320.760.000 đồng (ba trăm hai mươi triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng). Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm anh K xin rút lại toàn bộ yêu cầu phản tố của anh, không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết.

Xét thấy, việc rút yêu cầu phản tố của anh K là hoàn toàn tự nguyện và các đương sự khác không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của anh K là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thị X.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đều thống nhất phần đất tranh chấp nằm trong phạm vi các mốc từ mốc M1 đến M2, M3, M4 trở lại M1 có diện tích 178,2m², theo Sơ đồ đo đạc ngày 23/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, thuộc một phần thửa số 50, tờ bản đồ số 90, loại đất ở tại đô thị, đất tọa lạc tại Khóm D, TT. M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp có nguồn gốc là của cha mẹ ông Ngô Văn S1 (chồng của bà X, đã chết năm 2018) cho lại vợ chồng của bà X. Gia đình của bà X hiện đang quản lý, sử dụng phần đất này, nhưng chưa được đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bị đơn Ngô Hoàng K cũng thừa nhận sự việc này và cũng đồng ý tách quyền sử dụng đất cho bà X đối với diện tích đất nêu trên. Đồng thời, sự thỏa thuận giữa anh Đ và anh K không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự vắng mặt và bà X1 cũng thống nhất, không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận giữa anh Đ (là người đại diện theo ủy quyền cho bà X) với anh K.

[2] Ngoài yêu cầu khởi kiện của bà X, yêu cầu phản tố của anh K thì các đương sự khác trong vụ án không còn tranh chấp hay yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét gì thêm.

[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc là 2.635.500 đồng (hai triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm đồng), phía bà X tự nguyện chịu, đã nộp và chi xong.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh K phải chịu án phí dân sự không có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận. Tuy nhiên, phía bà X tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm này thay cho anh K nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Đối với các căn nhà và cây trồng của bà X có trên phần đất tranh chấp, các đương sự thống nhất không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Đối với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát huyện T là có căn cứ và phù hợp với nhận định nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 24 Điều 3, Điều 166; Điều 203 của Luật Đất đai;

Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 173, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Công nhận sự thỏa thuận giữa anh Dương Nhật Đ là người đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Thị X với bị đơn Ngô Hoàng K.

Buộc anh Ngô Hoàng K phải có nghĩa vụ sang tên tách bộ phần đất tranh chấp nằm trong phạm vi các mốc từ mốc M1 đến M2, M3, M4 trở lại M1 có diện tích 178,2m² theo Sơ đồ đo đạc ngày 23/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, thuộc một phần thửa số 50, tờ bản đồ số 90, loại đất ở tại đô thị, đất tọa lạc tại Khóm D, TT. M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp cho bà Huỳnh Thị X.

Huỳnh Thị X và anh Ngô Hoàng K có quyền và nghĩa vụ đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký và điều chỉnh lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Trường hợp anh K không thực hiện, thì bà X được quyền tự liên hệ với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục để được đứng tên quyền sử dụng đất theo luật định.

2. Kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ thu hồi một phần diện tích 178,2m² theo Sơ đồ đo đạc ngày 23/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, thuộc một phần thửa số 50, tờ bản đồ số 90, loại đất ở tại đô thị, đất tọa lạc tại Khóm D, TT. M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh Ngô Hoàng K ngày 19/11/2019 để cấp quyền sử dụng đất lại cho bà Huỳnh Thị X.

(Kèm Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười và Sơ đồ đo đạc ngày 23/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T)

3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc là 2.635.500 đồng (hai triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm đồng), phía bà X tự nguyện chịu, đã nộp và chi xong.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Huỳnh Thị X tự nguyện chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Ngô Hoàng K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả lại anh Ngô Hoàng K số tiền 8.019.000 đồng (tám triệu không trăm mười chín nghìn đồng) là tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0005576 ngày 09/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.

7. Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Riêng, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tháp Mười;
  • - THADS huyện Tháp Mười;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VPTA & Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Tinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/DS-ST ngày 12/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp về dân sự quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản

  • Số bản án: 84/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về dân sự quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger