|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN Bản án số: 84/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10-9-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hùng Quốc
- Ông Võ Văn Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Quê, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 211/2024/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số B, ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An, vắng mặt.
Chỗ ở hiện nay: Số D, ấp V, xã D, huyện C, tỉnh Long An.
Bị đơn: Ông Hà Minh L, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số B, ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 7 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H trình bày:
Bà và ông Hà Minh L chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện C, tỉnh Long An vào ngày 31/12/2008.
Sau ngày cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian khoảng 16 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông Hà Minh L.
Về nuôi con chung: Bà và ông Hà Minh L có với nhau hai người con chung tên là Hà Ngọc H1 sinh ngày 03/01/2010 và Hà Như Q sinh ngày 07/4/2014, hiện hai con chung đang sống cùng bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung, bà không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi hai con chung.
Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà cam kết không có nợ chung.
Ông Hà Minh L là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kim H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Hà Minh L, việc tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Lý cư trú tại huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An thụ lý giải quyết là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: Bà H, ông L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông L vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông L tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện C, tỉnh Long An nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông L là hôn nhân hợp pháp.
Qua lời khai trình của bà H, quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Bà H và ông L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bà H có đơn xin vắng mặt, ông L vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn của bà H, thể hiện việc đương sự không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông L đã phát sinh mâu thuẫn, nhưng hai đương sự không có thiện chí hàn gắn lại, đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà H yêu cầu ly hôn với ông L là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về nuôi con chung: Bà H và ông L có với nhau hai người con chung tên là Hà Ngọc H1 sinh ngày 03/01/2010 và Hà Như Q sinh ngày 07/4/2014.
Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi hai con. Để không ảnh hưởng đến cuộc sống, học tập và đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung cũng như nguyện vọng của hai con chung mong muốn được sống cùng với mẹ nên cần giao hai con chung cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về chia tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kim H và ông Hà Minh L.
-
Về nuôi con chung: Giao hai con chung tên Hà Ngọc H1 sinh ngày 03/01/2010 và Hà Như Q sinh ngày 07/4/2014, cho bà Nguyễn Thị Kim H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Ông Hà Minh L không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009014 ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Ái Duy |
Bản án số 84/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 84/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kim H- Hà Minh L "Ly hôn"
