Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2023/HS-ST
Ngày 16-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Oanh
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chấn và ông Chu Hồng Văn.
  • Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Tùng, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn B, sinh năm 1986 tại xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tên gọi khác: Không.

Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: không; con ông Hoàng Choóng T, sinh năm 1958 (Đã chết); con bà Lương Thị X, sinh năm 1962; vợ: Lưu Thị B1, sinh năm 1993; bị cáo có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Trần Tuấn A, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (đã chết).

- Đại diện hợp pháp cho anh Trần Tuấn A:

  • + Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Là mẹ đẻ).
  • + Chị Đồng Thị T1, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Là vợ).
  • + Cháu Trần Nhật M, sinh năm 2010; địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Là con trai).
  • + Cháu Trần Thị Bảo N, sinh năm 2013; địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Là con gái).

Người đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp cho anh Trần Tuấn A: Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Vũ Trí T2, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn G, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).
  • + Ông Dương Minh K, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Hoàng Văn B, sinh ngày 12/11/1986, trú tại thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang có giấy phép lái xe hạng A1/FC theo quy định. Theo hợp đồng lao động, Ba làm lái xe ô tô thuê cho anh Vũ Trí T2, sinh năm 1981, trú tại thôn G, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang từ ngày 15/02/2023. Khoảng 22 giờ ngày 21/5/2023, B điều khiển xe ô tô biển kiểm soát (sau đây viết tắt là BKS) 98H-031.12 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 98R-026.79 đi trên tuyến đường Tỉnh lộ 295 thuộc xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang theo hướng Quốc lộ C thuộc huyện L, tỉnh Bắc Giang để đi đến xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn chở đá phục vụ nâng cấp tuyến đường Quốc lộ 31 thuộc địa phận tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L. Khi đi đến ngã tư thị tứ B, xã B, huyện L (đoạn đường giao giữa Tỉnh lộ 295 và Quốc lộ C), Ba quan sát phía trước không có phương tiện qua lại, Ba bật xi nhan và đánh lái xe ô tô sang phải để rẽ vào tuyến đường Q đi thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì xảy ra va chạm với xe mô tô BKS 98K7-1233 do anh Trần Tuấn A, sinh năm 1981, trú tại thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển cùng chiều. Hậu quả, xe mô tô bị đổ kẹt dưới gầm xe ô tô, anh Tuấn A bị thương nặng được đưa đi bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu sau đó tử vong.

Sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi theo quy định.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

Hiện trường xảy ra vụ việc tại khu vực ngã tư giao nhau giữa đường Q và đường T thuộc K+500 Quốc lộ C ở Thị tứ B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Mặt đường khu vực ngã tư giao nhau trải nhựa phẳng. Mặt đường Quốc lộ 37 phía đi T 6,9m, giữa đường có vạch kẻ sơn nét liền mờ, phần giao nhau ngã tư có độ mở rộng 21,8m, đường dốc lên theo hướng từ thị trấn Đ đi thị trấn K. Mặt đường Quốc lộ 37 phía đi T 7,8m, phần giao nhau giữa ngã tư có độ mở rộng 20,6m; giữa đường có vạch kẻ sơn nét liền mờ; mặt đường Tỉnh lộ 295 phía đi T rộng 9,4m; giữa đường có vạch kẻ sơn nét liền mờ, phần giao nhau ngã tư có độ mở rộng 20m; mặt đường tỉnh lộ 295 phía đi thị trấn V, huyện L rộng 7,5m, giữa đường có vạch kẻ sơn nét liền mờ, phần giao nhau ngã tư có độ mở rộng 26m.

Trên trục đường Tỉnh lộ 295 chọn hướng đi từ xã T đi thị trấn V làm hướng chuẩn; bên phải, bên trái đường có vỉa hè, lề bê tông. Trên lề đường bên phải phía đi thị trấn V có cột mốc bê tông trên có ký tự “ĐT295-Km10”.

Trên trục đường Quốc lộ 37 chọn hướng đi từ thị trấn Đ đi thị trấn K làm hướng chuẩn; bên phải, bên trái đường có vỉa hè, lề bê tông. Trên lề đường bên phải phía đi thị trấn K có đặt cột mốc bê tông trên có ký tự “H5/36”, chọn làm mốc chuẩn, chọn mép trái đường phía đi thị trấn K làm mép chuẩn.

Đánh số thứ tự các dấu vết, phương tiện: dấu vết trượt bám dính vật chất màu nâu đỏ ký hiệu (1), dấu vết trượt xước ký hiệu (2); xe ô tô đầu kéo BKS 98H-03112 kéo sơ mi rơ mooc BKS 98R-026.79 ký hiệu (3); xe mô tô BKS 98K7-1233 ký hiệu (4).

Đặc điểm các dấu vết ghi nhận tại hiện trường:

  • - Dấu vết trượt, bám dính vật chất màu nâu đỏ kích thước 25,3m x 1,1m trên mặt đường Quốc lộ 37 ký hiệu (1). Dấu vết có chiều hướng từ thị trấn Đ đi thị trấn K; điểm đầu vết cách mốc chuẩn 23,2m về phía thị trấn Đ, cách cột mốc bê tông “ĐT295-Km10” 18m về phía xã T; điểm cuối cách mép chuẩn 4m. Đo điểm đầu vết (1) tới điểm gần nhất trên đường cong nối mép trái đường Quốc lộ 37 và mép phải đường Tỉnh lộ 295 cách 8,4m.
  • - Hệ thống dấu vết trượt xước trên mặt đường kích thước 33,9m x 0,5m; vết lớn nhất rộng 1cm; vết nhỏ nhất rộng 0,5cm ký hiệu (2). Dấu vết trên mặt đường Q, hướng từ thị trấn Đ đi thị trấn K; điểm đầu vết cách mốc chuẩn 23m về phía thị trấn Đ, cách cột mốc bê tông “ĐT295-Km10” 17,7m về phía xã T, điểm cuối cách mép chuẩn 4,88m. Điểm đầu vết (2) cách điểm đầu vết (1) là 0,2m về phía thị trấn K. Đo điểm đầu vết (2) tới điểm gần nhất trên đường cong nối mép trái đường Quốc lộ 37 và mép phải đường Tỉnh lộ 295 cách 8,3m.
  • - Xe ô tô đầu kéo BKS 98H-03112 kéo sơ mi rơ mooc BKS 98R-026.79 đỗ trên mặt đường Q phía đi thị trấn K, đầu xe hướng phía thị trấn K, đuôi xe hướng phía thị trấn Đ ký hiệu (3). Xe có 06 trục hàng bánh xe, đánh số thứ tự, đánh số thứ tự từ đầu xe tới đuôi xe lần lượt từ trục bánh 1 tới trục hàng 6. Trục bánh sau hàng 6 bên phải xe cách mốc chuẩn 4,9m về phía thị trấn K, cách mép chuẩn 3,5m, cách điểm đầu vết (2) là 22m về phía thị trấn K; trục bánh hàng 1 bên phải xe cách mép chuẩn 5,6m.
  • - Xe mô tô BKS 98K7-1233 đổ nghiêng phải trên mặt đường Quốc lộ 37, đầu xe hướng thị trấn K, đuôi xe hướng thị trấn Đ ký hiệu (4). Trục bánh sau xe cách trục bánh hàng 1 bên phải xe (3) là 1,55m về phía thị trấn K; cách mép chuẩn 4,55m; trục bánh trước xe (4) cách mép chuẩn 5,35m.

Thu giữ 01 xe mô tô BKS 98K7-1233 và 01 xe ô tô BKS 98H-031.12 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 98R-026.79.

* Khám nghiệm phương tiện:

Khám nghiệm xe mô tô BKS 98K7-1233: Mặt ngoài ốp nhựa thân xe bên trái có vùng dấu vết trượt xước bám dính vật chất màu trắng, rải rác trên diện (30x11)cm, điểm cao nhất cách đất 69 cm, điểm thấp nhất 64cm, dấu vết có chiều hướng từ trên xuống dưới; mặt ngoài đầu cần khởi động động cơ bên trái có bám dính rải rác vật chất màu xanh trên diện (6x5)cm, điểm thấp nhất 27cm, cao nhất 32cm; mặt ngoài đầu chân chống giữa bên trái có vùng dấu vết bám dính vật chất màu xanh kích thước (01x0,3)cm; gương chiếu hậu bên phải xô lệch khỏi vị trí cố định; mặt ngoài giá đỡ kim loại của gương chiếu hậu bên phải có vết trượt xước kích thước (02x0,5)cm; đầu tay phanh bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước (1,3x1,3)cm; đầu chắn bùn bánh trước bên phải có dấu vết trượt xước kích thước (06x2,5)cm; mặt ngoài cánh yếm bên phải có dấu vết trượt xước trên diện kích thước (27x3)cm, chiều hướng từ trước về sau; mặt ngoài để chân trước bên phải có dấu vết trược xước, kích thước (15x4)cm, chiều hướng từ trước về sau; mặt ngoài khung kim loại giá đỡ để chân sau bên phải có dấu vết trượt xước kích thước (4x3,5)cm; mặt ngoài ốp ống xả bên phải có vùng dấu vết trượt xước kích thước (37x7)cm; mặt dưới của khung kim loại giữa hai thanh chân chống giữa có vùng dấu vết trượt xước kích thước (10x7)cm; mặt dưới hai thanh kim loại, phía dưới của thân xe tại vị trí đầu ống xả có dấu vết trượt xước, kích thước (7x14)cm; đầu để chân chống giữa bên phải có vết trượt xước kích thước (01x0,5)cm.

- Khám nghiệm xe ô tô BKS 98H-031.12 kéo sơ mi rơ-mooc BKS 98R-026.79: mặt ngo

* Khám nghiệm tử thi: Tử thi được xác định là Trần Tuấn A, sinh năm 1981, trú tại thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Các dấu vết tổn thương trên cơ thể:

Vùng đầu: tóc đen cắt trung bình, mắt khép kín, đồng tử hai bên giãn tối đa, hai lỗ mũi và khoang miệng có máu chảy từ trong ra, hai lỗ tai khô. Vùng mặt có nhiều vết sây sát da bầm tím trên diện 22cm x 14,5cm. Vùng ngực bụng có diện mài sát rách da trên diện 58cm x 38cm trong đó vết rách da bờ mép không gọn để lộ tổ chức nội tạng dập nát kích thước các vết rách da 13cm x 8cm và 16cm x 5,5cm. Sưng nề biến dạng vùng chậu, hông và bẹn phải, hố chậu và bẹn trái có diện sây sát da bầm tím kích thước 14cm x 5,5cm. Gối, cẳng chân phải có diện sây sát da bầm tím kích thước 42cm x 5,5cm. Cổ, bàn chân phải được băng bằng gạc y tế màu trắng thấm dịch băng màu đỏ, kiểm tra thấy gãy phức tạp xương gót chân, xương bàn ngón 1, 2, 3 bàn chân phải. Gối, cẳng chân trái có nhiều vết sây sát, rách da bầm tím trên diện 39cm x 14,5cm. Mắt cá trong và mặt trong bàn chân trái có diện sây sát da bầm tím kích thước 12cm x 5,2cm. Mặt trước ngoài khuỷu tay, cẳng tay phải có diện mài sát da bầm tím kích thước 25cm x 9,5cm. Cổ tay, bàn ngón tay phải băng bằng gạc y tế thấm dịch màu đỏ, kiểm tra thấy gãy phức tạp xương bàn tay phải. Mặt sau khuỷu tay, cẳng tay trái có diện mài sát da bầm tím kích thước 25cm x 8,5cm. Cổ tay, bàn ngón tay trái băng bằng gạc màu trắng, thấm dịch màu đỏ, kiểm tra thấy gãy xương bàn ngón 2, 3 bàn tay trái. Kiểm tra thấy gãy cung trước xương sườn 7, 8, 9 và cung bên xương sườn 8, 9, 10 bên phải. Hậu môn thoát phân. Vùng lưng, thắt lưng có diện sây sát da bầm tím da kích thước 43cm x 32cm. Vùng mông có diện sây sát, bầm tím da kích thước 26cm x 12,5cm. Mặt sau gối phải có diện sây sát da bầm tím da kích thước 16cm x 9cm. Sờ nắn thấy gãy cung sau xương sườn 5, 6, 7, 8, 9, 10 bên phải. Gãy phức tạp xương chậu phải.

Mổ tử thi hoặc một phần tử thi: Kiểm tra dấu vết rách da vùng bẹn và bụng phải: bầm dập, tụ máu tổ chức dưới da cơ, qua vết rách để lộ phần vỡ phức tạp xương chậu phải, tổ chức nội tạng dập nát lòi ra ngoài; tổn thương phức tạp mạch máu, thần kinh vùng bẹn và đùi phải.

T3 và niêm phong mẫu máu của tử thi Trần Tuấn A.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định nguyên nhân chết của anh Trần Tuấn A. Tại kết luận giám định số 1131/KLGĐTT-KTHS ngày 19/6/2023, Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

  • “- Nguyên nhân chết của Trần Tuấn A do đa chấn thương: chấn thương ngực - bụng, vỡ
  • Cơ chế hình thành dấu vết thương tích:
  • + Các tổn thương sưng nề, biến dạng, sây sát, mài sát, rách da, bầm tím hình thành do tác động với vật tày có diện tiếp xúc và các hình dạng khác nhau, theo nhiều chiều hướng tạo nên.
  • + Tổn thương gãy phức tạp xương sườn, xương chậu, dập nát tổ chức nội tạng do vật tày, lực tác động mạnh tạo nên.”

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết trên phương tiện và hiện trường, xác định vị trí va chạm, tư thế, chiều hướng chuyển động, tư thế chuyển động của phương tiện khi xảy ra va chạm, xác định tốc độ của phương tiện ngay trước khi tai nạn xảy ra. Tại Kết luận giám định số 1282/KL-KTHS ngày 14/7/2023, Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

  1. Dấu vết trượt xước sơn, kim loại, sạch bụi đất, bám dính chất màu ghi và màu đen (dạng sơn), hướng từ trước ra sau ở mặt ngoài bên phải cản trước của xe ô tô BKS 98H - 031.12 (ảnh 10, 11, 12 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước mất nhựa, dính chất màu ghi, ở mặt ngoài bên trái cụm đèn hậu và ốp nhựa sườn bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98K7- 1233 (khi xe mô tô ở tư thế đứng cùng chiều, ảnh 5 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
    Dấu vết mài trượt kim loại, sạch bụi đất, bám dính chất màu đen (dạng sơn) ở mặt trước, dưới cụm chi tiết thước lái và mặt dưới thanh kim loại cố định trục bánh trước của xe ô tô BKS 98H- 031.12 (ảnh 5, 6, 7, 8 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước mất sơn, nhựa ở ốp sườn bên trái và dấu vết mài trượt bám dính đất ở bên trái yên của xe mô tô BKS 98K7- 1233 (khi xe mô tô trong tư thế đổ nghiêng phải, ảnh 5 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
  2. Dấu vết trượt xước mặt đường ký hiệu số 2 phù hợp với quá trình va chạm, xe mô tô BKS 98K7- 1233 đổ nghiêng phải, bị đẩy rê trượt trên mặt đường tạo nên.
  3. Vị trí va chạm giữa xe ô tô BKS 98H - 031.12 và xe mô tô BKS 98K7- 1233 trên mặt đường, tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 2, trong khu vực giao nhau giữa đường quốc lộ 37 và đường tỉnh lộ 295.
  4. Không xác định được chiều hướng chuyển động của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.

5. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm qua dấu vết cơ học.”

Ngày 22/5/2023, anh Tạ Văn L, sinh năm 1979, trú tại thị tứ B, xã B, huyện L giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 đĩa DVD chứa 01 đoạn video có dung lượng 1,25MB, tên “1360074315844901971”. Thời gian hiển thị video từ 22 giờ 07 phút 06 giây đến 22 giờ 07 phút 18 giây ngày 21/5/2023, tổng 12 giây. Cơ quan điều tra đã tiến hành niêm phong và trưng cầu giám định.

Tại kết luận giám định số 1174/KL-KTHS ngày 27/6/2023, Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

  • “- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chính sửa nội dụng hình ảnh trong 01 file video có tên “1360074315844901971.mp4"; dung lượng: 1,25MB; thời lượng: 00 phút 12 giây lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định.
  • - Tại thời điểm 22 giờ 07 phút 11 giây ngày 21/5/2023 (thời gian thể hiện trên khung hình của file video) xảy ra va chạm giữa xe mô tô với xe ô tô, không xác định được vị trí va chạm giữa hai phương tiện thuộc phần đường nào, do hai phương tiện va chạm trong khu vực ngã tư đường giao nhau, không có vạch kẻ đường.
  • - Trích xuất được 12 hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc có trong file video gửi giám định.”

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra, xét nghiệm nồng độ cồn. Kết quả: Nồng độ cồn của Hoàng Văn B tại thời điểm 01 giờ 05 phút ngày 22/5/2023 là 0,000 mg/L. Nồng độ cồn trong máu của nạn nhân Trần Tuấn A là 90,3 mmol/L tương đương 416,1 mg/100mL máu.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, Hoàng Văn B và anh Vũ Trí T2 đã đến thăm hỏi, động viên và thoả thuận bồi thường cho gia đình nạn nhân Trần Tuấn A 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng). Đại diện gia đình nạn nhân đã nhận đủ số tiền trên và xin tự nguyện hoà giải, đồng thời có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Hoàng Văn B.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho anh Vũ Trí T2: 01 xe ô tô BKS 98H-031.12 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 98R-026.79; 02 giấy biên nhận thế chấp đăng ký xe ô tô BKS 98H-031.12 và sơ mi rơ mooc BKS 98R-026.79; 02 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô BKS 98H-031.12 và sơ mi rơ mooc BKS 98R-026.79; 01 chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của xe ô tô BKS 98H-031.12; Trả lại cho anh Dương Minh K, sinh năm 1980, trú tại thôn Đ, xã B, huyện L 01 xe mô tô BKS 98K7- 1233. Còn 01 giấy phép lái xe mang tên Hoàng Văn B, Cơ quan CSĐT Công an huyện L chuyển xử lý cùng vụ án.

Tại cơ quan điều tra, Hoàng Văn B thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 86/CT-VKS ngày 26/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố bị cáo Hoàng Văn B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn B trình bày: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối hận, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

Ông Nguyễn Ngọc C trình bày: Hành vi phạm tội của bị cáo B là rủi ro, không ai mong muốn, đến nay gia đình đã nhận được tổng số tiền bồi thường là 200.000.000 đồng, gia đình không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã phát biểu lời luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn B từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng tháng. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Giao bị cáo Hoàng Văn B cho UBND xã V, huyện L giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn B 01 giấy phép lái xe ô tô hạng A1/FC số [...] mang tên Hoàng Văn B.

Về án phí: Miễn án phí hình sự cho bị cáo Hoàng Văn B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi và quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trước cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến của quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 22 giờ ngày 21/5/2023, Hoàng Văn B có giấy phép lái xe hạng A1/FC điều khiển xe ô tô ô tô BKS 98H-031.12 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 98R-026.79 đi trên đường T hướng từ xã B đi xã B. Khi đi đến khu vực ngã tư giao nhau giữa đường Q và đường T thuộc K+500 Quốc lộ C ở thị tứ B, xã B, huyện L, do không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn, không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 15, khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ, khoản 1 Điều 11 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng, Hoàng Văn B điều khiển xe ô tô đánh lái sang phải để rẽ vào Quốc lộ C hướng đi thị trấn K, huyện L nên đã xảy ra va chạm giao thông đường bộ với xe mô tô BKS 98K7-1233 do anh Trần Tuấn A điều khiển hậu quả khiến anh Tuấn A tử vong.

Anh Trần Tuấn A cũng có một phần lỗi là điều khiển xe đến đoạn đường giao nhau không chú ý quan sát, trong máu có nồng độ cồn vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ.

[3] Xét tính chất của vụ án: Vụ án này có 01 bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm hại đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tổn thất lớn về tinh thần cho gia đình bị hại, đồng thời gây hoang mang, lo lắng cho những người tham gia giao thông khi đi qua khu vực này. Do vậy, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Như vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi gây tai nạn bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 160.000.000 đồng, trước phiên tòa bị cáo đã bồi thường tiếp cho gia đình bị hại số tiền 40.000.000 đồng. Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền 200.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo B; tại phiên tòa, ông Nguyễn Ngọc C đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp cho bị hại đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B. Do vậy, cần áp dụng Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[7] Bản thân bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, có nơi thường trú cụ thể rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của P.

[8] Về hình phạt bổ sung: Tội phạm do bị cáo thực hiện, lẽ ra phải áp dụng hình phạt bổ sung là cấm bị cáo hành nghề lái xe từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, HĐXX thấy bị cáo thực sự ăn năn hối cải, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo thấy rõ được trách nhiệm của mình nên đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 160.000.000 đồng, trước phiên tòa bị cáo đã bồi thường tiếp cho gia đình bị hại số tiền 40.000.000 đồng. Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền 200.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường gì khác. Hội đồng xét xử thấy việc bồi thường là do các bên hoàn toàn tự nguyện nên cần ghi nhận sự tự nguyện này, do vậy không đặt ra xem xét giải quyết.

[10] Về vật chứng: Đối với 01 xe ô tô BKS 98H-031.12 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 98R-026.79; 02 giấy biên nhận thế chấp đăng ký xe ô tô BKS 98H-031.12 và sơ mi rơ mooc BKS 98R-026.79; 02 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô BKS 98H-031.12 và sơ mi rơ mooc BKS 98R-026.79; 01 chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của xe ô tô BKS 98H-031.12 là của anh Vũ Trí T2 không liên quan đến việc phạm tội. Ngày 13/7/2023, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả cho anh Vũ Trí T2, anh T2 đã nhận và không có ý kiến gì, HĐXX xét thấy cần chấp nhận.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Click BKS 98K7- 1233 là của anh Nguyễn Tuấn A1 không liên quan đến việc phạm tội. Ngày 13/7/2023, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả cho gia đình anh Tuấn A1, gia đình anh Tuấn A1 đã nhận và không có ý kiến gì, HĐXX xét thấy cần chấp nhận.

Đối với 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng A1,FC số [...] mang tên Hoàng Văn B, cần trả lại cho bị cáo Hoàng Văn B, HĐXX xét thấy cần chấp nhận.

(Vật chứng của vụ án như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam).

[11] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn B thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Quyền kháng cáo: Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn B 01 năm 03 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Văn B cho UBND xã V, huyện L giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 BLTTHS.

Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn B 01 giấy phép lái xe ô tô hạng A1/FC số [...] mang tên Hoàng Văn B.

(Vật chứng của vụ án như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 - BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn B.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332 và 333- BLTTHS

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Nam;
  • - Chi Cục THADS huyện Lục Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VP, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Ngọc Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (criminal case)

  • Số bản án: 84/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hoàng Văn B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger