|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 84/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10-7-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Tấn Dũng.
- Ông Nguyễn Tuấn Lam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Diệp Văn Hiếu Nhỏ - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 116/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2024/QĐXX-ST ngày 06 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tô Thị H, sinh ngày 25 tháng 4 năm 1995; Nơi cư trú: Ấp A, xã TP2, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Phạm Quốc D, sinh ngày 27 tháng 10 năm 1993; Nơi cư trú: Ấp A, xã TP2, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 5 năm 2024 và bản khai ngày 06 tháng 6 năm 2024 của nguyên đơn chị Tô Thị H trình bày: Vào năm 2011, chị có quen biết với anh Phạm Quốc D, qua thời gian tìm hiểu hai bên tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới cho chị và anh D trong năm 2011, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP2, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới hai vợ chồng sống chung nhà với gia đình anh D. Thời gian đầu hai vợ chồng sống chung với nhau rất hạnh phúc, đến tháng 3 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn về chuyện tình cảm gia đình, vợ chồng sống chung không còn hạnh phúc, không còn chăm lo gì cho nhau nữa, mạnh ai nấy sống. Nay nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không hàn gắn tình cảm được nữa, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Quốc D. Về nuôi con chung: Chị Tô Thị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Phạm Tô Gia T, sinh ngày 02 tháng 6 năm 2019 và đồng ý giao cháu Phạm Tô Gia B, sinh ngày 10 tháng 5 năm 2013 cho anh Phạm Quốc D tiếp tục nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Phạm Quốc D đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Tô Thị H được ly hôn với anh Phạm Quốc D; về nuôi con chung: Giao con chung Phạm Tô Gia T, sinh ngày 02 tháng 6 năm 2019 cho chị Tô Thị H tiếp tục nuôi dưỡng và giao con chung Phạm Tô Gia B, sinh ngày 10 tháng 5 năm 2013 cho anh Phạm Quốc D tiếp tục nuôi dưỡng, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu và chị H không phải cấp dưỡng nuôi con do anh D chưa có yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung: Chị Tô Thị H trình bày không có, còn anh Phạm Quốc D không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- [2] Nguyên đơn chị Tô Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Phạm Quốc D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
- [3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Tô Thị H và anh Phạm Quốc D là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Tô Thị H đối với anh Phạm Quốc D, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị Tô Thị H thì cuộc sống của chị và anh Phạm Quốc D không còn hạnh phúc từ tháng 3 năm 2023 do phát sinh mâu thuẫn về chuyện tình cảm gia đình, vợ chồng sống chung không còn hạnh phúc, không còn chăm lo gì cho nhau nữa, mạnh ai nấy sống. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị H và anh D hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Tô Thị H ly hôn với anh Phạm Quốc D.
- [4] Về việc nuôi con chung: Chị Tô Thị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Phạm Tô Gia T, sinh ngày 02 tháng 6 năm 2019 và đồng ý giao cháu Phạm Tô Gia B, sinh ngày 10 tháng 5 năm 2013 cho anh Phạm Quốc D tiếp tục nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị H và anh D không còn sống chung và hiện nay thì cháu Gia T do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu Gia B do anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Gia T và anh D được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Gia B, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu và chị H không phải cấp dưỡng nuôi con do anh D chưa có văn bản ghi ý kiến để Tòa án xem xét, nếu anh D có yêu cầu thì anh được quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.
- [5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Tô Thị H cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Phạm Quốc D không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
- [6] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 229, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tô Thị H, cho ly hôn giữa chị Tô Thị H và anh Phạm Quốc D.
- Về việc nuôi con chung:
- Chị Tô Thị H được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con chung Phạm Tô Gia T, sinh ngày 02 tháng 6 năm 2019.
- Anh Phạm Quốc D được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con chung Phạm Tô Gia B, sinh ngày 10 tháng 5 năm 2013.
- Chị Tô Thị H và anh Phạm Quốc D không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Tô Thị H chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006116 ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lương Bằng |
Bản án số 84/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 84/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H yêu cầu ly hôn với anh D
