Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/ DS-ST.

Ngày: 09-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Mi Mi

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Đặng Văn Minh

- Bà Đào Thị Mộng Trinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Kim Quy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 30/2024/TLST – DS ngày 24 tháng 01 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-DS ngày 24/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 82ª/2024/QÐST-DS ngày 18/6/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần B (BV B1);

Địa chỉ: Tòa nhà H - số D N, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quang T – Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phúc H - Giám đốc Trung tâm xử lý nợ pháp lý.

Người đại diện theo ủy quyền lại:

  1. Ông Phan Chí H1 – Sinh năm 1974;
  2. Địa chỉ: Tòa nhà H - số D N, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Ông Nguyễn Thanh T1 – Sinh năm 1986
  4. Địa chỉ: D T, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Theo giấy ủy quyền ngày 11 tháng 12 năm 2023.

Bị đơn

  1. Bà Nguyễn Thị P – sinh năm 1972;
  2. Ông Nguyễn Văn Đ – Sinh năm 1970;

Cùng địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị Phương L – Sinh năm 1990;
  2. Anh Nguyễn Đức Q – Sinh năm 1993;

Cùng địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa vắng mặt tất cả các đương sự.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/12/2023, bản tự khai và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B (gọi tắc là Ngân hàng) do ông Nguyễn Thanh T1 đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn Đ có ký Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0352200043800 ngày 04/11/2022 với Ngân hàng TMCP B số tiền vay 2.300.000.000 đồng (Hai tỷ ba trăm triệu đồng), thời hạn vay là 12 tháng (từ ngày 04/11/2022 đến ngày 04/11/2023), mục đích vay vốn bổ sung vốn mua bán thanh long, lãi suất cho vay là 13%/ năm (theo từng giấy nhận nợ).

Khi vay bà P, ông Đ có thế chấp tài sản bảo đảm khoản vay theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 03522000050400 ngày 30/10/2020, số công chứng 10675, quyển số 11TP/CC –SCC/HĐGD; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0352000050500 ngày 30/10/2020, số công chứng 10676, quyển số 11TP/CC –SCC/HĐGD và Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 0352000050401 (Lần 1) ngày 04/11/2021 số công chứng: 7970, quyển số 08/2021TP/CC-SCC/HĐGD tất cả đều do Văn phòng C, thành phố P, tỉnh Bình Thuận chứng nhận. Tài sản thế chấp là:

  • + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 131007, số vào sổ cấp GCN: CS 08943 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/3/2020, cấp đứng tên hộ ông Nguyễn Văn Đ.
  • + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 805881, số vào sổ cấp GCN: CH 09434 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 17/9/2020, cấp đứng tên ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị P.

Tất cả quyền sử dụng đất tọa lạc tại: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Trong quá trình vay vốn bà P, ông Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng đã nhiều lần gọi điện thông báo, gửi thông báo nợ, lập biên bản làm việc nhằm xử lý khoản nợ quá hạn, tuy nhiên bà P, ông Đ thường xuyên không thực hiện theo cam kết trả nợ cho Ngân hàng. Quá trình vay bà P, ông Đ đã thanh toán gốc và lãi tổng cộng 302.178.305 đồng, sau đó không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Nay, Ngân hàng có đơn khởi kiện yêu cầu:

  • - Buộc bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn Đ phải trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền còn nợ là 2.485.439.049 đồng tính đến ngày 05/3/2024, Trong đó tiền gốc là 2.299.999.898 đồng, Lãi suất trong hạn là 24.508.862 đồng; lãi chậm trả lãi là 812.486 đồng, lãi phạt gốc là 160.117.803 đồng. Tính đến ngày xét xử 09/7/2024 hiện còn nợ tiền gốc là 2.299.692.287 đồng, lãi suất trong hạn là 24.508.862 đồng; lãi phạt chậm trả lãi là 1.658.545 đồng, lãi phạt chậm gốc là 326.830.981 đồng. Tổng cộng: 2.652.690.675 đồng.
  • - Buộc bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn Đ phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP B số tiền lãi quá hạn phát sinh quy định tại Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0352200043800 ngày 04/11/2022 mà bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn Đ đã ký với Ngân hàng TMCP B kể từ ngày 10/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Trường hợp bà P, ông Đ không trả được nợ thì Ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 03522000050400 do Văn phòng C chứng nhận ngày 30/10/2020, số công chứng 10675, quyển số 11TP/CC –SCC/HĐGD và Hợp đồng thế chấp số 03522000050500 do Văn phòng C chứng nhận ngày 30/10/2020, số công chứng 10676, quyển số 11TP/CC –SCC/HĐGD để nguyên đơn thu hồi nợ.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày tại bản khai ngày 26/3/2024: Bà P là vợ của ông, hiện nay các con ông đã đi làm ăn xa không có ở nhà, bà P (vợ) thì đã bỏ nhà đi, ông không biết đi đâu nên không đến Tòa án để giải quyết vụ án này được. Vợ chồng ông chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H và có 02 con tên Nguyễn Đức Q, Nguyễn Thị Phương L. Vợ chồng ông có đứng tên vay của Ngân hàng thương mại cổ phần B số tiền gốc là 2.300.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0352200043800 ngày 04/11/2022. Mục đích vay là để mua bán thanh long và đầu tư chăm sóc thanh long, thời hạn vay 12 tháng (kể từ ngày 04/11/2022 đến 04/11/2023), lãi suất 13%/năm. Quá trình vay vợ chồng ông đã trả lãi cho Ngân hàng đến tháng 10/2023 (âm lịch) nhưng không trả gốc vì không có khả năng trả. Ông không nhớ đã trả được cho Ngân hàng bao nhiêu tiền. Việc vợ chồng ông vay Ngân hàng thì các con Q và L đều biết và không có ý kiến gì về việc vợ chồng ông thế chấp các tài sản cho Ngân hàng để đảm bảo khoản vay. Vợ chồng và các con ông có thế chấp các tài sản sau: Quyền sử dụng 2.128.1m² đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 131007 số vào sổ cấp GNN: CS 08943 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/3/2020; Quyền sử dụng 200m² đất ở tại nông thôn tọa lạc tại Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 805881 số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH 09434 do UBND huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 17/9/2020. Từ lúc vay Ngân hàng đến nay tài sản này không có phát sinh thêm tài sản nào khác trên đất và ông cũng không chuyển nhượng hoặc bán cho bất kỳ ai nên ông cam kết trước Tòa án tài sản thế chấp cho Ngân hàng không có thay đổi hoặc phát sinh thêm gì khác. Nếu có phát sinh tài sản nào trên diện tích đất đã thế chấp cho Ngân hàng thì ông hoàn toàn chịu trách nhiệm và tự nguyện tháo dỡ không yêu cầu gì khác.

Khi vay anh Nguyễn Đức Q và chị Nguyễn Thị Phương L có ký Hợp đồng ủy quyền đối với 02 tài sản thế chấp trên qua cho vợ chồng ông để đi thế chấp vay ngân hàng. Do đó, các con ông đều thống nhất tài sản thế chấp cho Ngân hàng và đồng ý để vợ chồng ông tự quyết định. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị P phải trả số tiền nợ vay tính đến ngày 05/12/2023 là 2.364.408.833 đồng (Trong đó tiền gốc là 2.299.999.898 đồng, L1 trong hạn là 24.508.862 đồng; Lãi chậm trả là 201.443 đồng, lãi phạt gốc là 39.698.630 đồng) theo hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0352200043800 ngày 04/11/2022 và tiền lãi phát sinh từ ngày 06/12/2023 cho đến khi ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị P thanh toán xong toàn bộ khoản nợ vay theo hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0352200043800 ngày 04/11/2022 thì ông đồng ý thỏa thuận trả cho Ngân hàng số tiền trên cho đến khi trả hết nợ. Đối với các tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng vợ chồng ông cũng đồng ý phát mãi tài sản nếu không trả nợ. Ngoài ra, ông không trình bày gì thêm.

Bị đơn bà Nguyễn Thị P, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Phương L, anh Nguyễn Đức Q vắng mặt nên không có bản khai tại hồ sơ.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như thông báo thụ lý vụ án, thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn Đ; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Phương L, anh Nguyễn Đức Q đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 203 và Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0352200043800 ngày 04/11/2022. Bị đơn có địa chỉ tại Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào nơi cư trú và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, xác định quaqn hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” được pháp luật quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T1 vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn Đ và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Phương L, anh Nguyễn Đức Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

[3] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

[3.1] Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0352200043800 ngày 04/11/2022 giữa Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh B2 với bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn Đ thì tại thời điểm ký kết hợp đồng Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh B2 có đầy đủ tư cách pháp nhân; bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn Đ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; các bên giao kết hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, không giả tạo, không bị ép buộc, lừa dối, các bên đã đọc lại, hiểu rõ, nhất trí và cùng ký tên. Vì vậy, Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0352200043800 ngày 04/11/2022 và các văn bản kèm theo giữa các bên được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Theo Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0352200043800 ngày 04/11/2022 và các văn bản kèm theo thì Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh B2 đã cho bà P, ông Đ vay số tiền 2.300.000.000 đồng (Hai tỷ ba trăm triệu đồng), thời hạn vay là 12 tháng (từ ngày 04/11/2022 đến ngày 04/11/2023), mục đích vay vốn bổ sung vốn mua bán thanh long, lãi suất cho vay là 13%/ năm (theo từng giấy nhận nợ).

Quá trình vay bà P, ông Đ đã thanh toán gốc và lãi tổng cộng 302.178.305 đồng. Từ đó cho đến nay bà P, ông Đ không thực hiện trả tiền gốc và lãi như hợp đồng đã ký mặc dù đã được Ngân hàng nhắc nhở, từ ngày 06/11/2023 khoản nợ trên đã chuyển sang nợ quá hạn theo quy định của Ngân hàng. Tính đến ngày 09/7/2024, hiện còn nợ tổng cộng 2.652.690.675 đồng, trong đó nợ gốc là 2.299.692.287 đồng, lãi trong hạn là 24.508.862 đồng; lãi chậm trả lãi là 1.658.545 đồng, lãi phạt chậm gốc là 326.830.981 đồng.

[3.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hợp đồng tín dụng trên có hình thức và nội dung thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật. Căn cứ vào nội dung đã được các bên thỏa thuận ký kết về thời hạn cho vay và thời hạn thanh toán nợ. Xét thấy bà P, ông Đ không thực hiện nghĩa vụ đúng cam kết theo hợp đồng đã ký, vi phạm các điều kiện ký kết trong hợp đồng. Trong quá trình Tòa án giải quyết, đã nhiều lần cho bà P, ông Đ cơ hội để khắc phục, thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng nhưng bà P, ông Đ cố tình vắng mặt không thực hiện việc trả nợ. Do vậy, Ngân hàng TMCP B yêu cầu bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn Đ phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền nợ tính đến ngày 09/7/2024, tổng cộng tổng cộng 2.652.690.675 đồng, trong đó nợ gốc là 2.299.692.287 đồng, lãi trong hạn là 24.508.862 đồng; lãi chậm trả lãi là 1.658.545 đồng, lãi phạt chậm gốc là 326.830.981 đồng và cùng lãi suất phát từ ngày 10/7/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng cho Ngân hàng TMCP B là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận.

[3.3] Về xử lý tài sản bảo đảm: Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 03522000050400 ngày 30/10/2020, số công chứng 10675, quyển số 11TP/CC –SCC/HĐGD; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0352000050500 ngày 30/10/2020, số công chứng 10676, quyển số 11TP/CC –SCC/HĐGD và Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 0352000050401 (Lần 1) ngày 04/11/2021 số công chứng: 7970, quyển số 08/2021TP/CC-SCC/HĐGD tất cả đều do Văn phòng C, thành phố P, tỉnh Bình Thuận chứng nhận. Tài sản thế chấp là: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 131007, số vào sổ cấp GCN: CS 08943 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/3/2020, cấp đứng tên hộ ông Nguyễn Văn Đ; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 805881, số vào sổ cấp GCN: CH 09434 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 17/9/2020, cấp đứng tên ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị P. Các con là chị Nguyễn Thị Phương L, anh Nguyễn Đức H2 đã ủy quyền cho bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn Đ theo Hợp đồng ủy quyền đã được công chứng tại Văn phòng C theo số công chứng 10337, quyển số 11 TP/CC – SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định. Do đó, Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu áp dụng các biện pháp xử lý tài sản mà chị Nguyễn Thị Phương L, anh Nguyễn Đức H2 đã ủy quyền cho bà P, ông Đ đã thế chấp đảm bảo cho khoản vay để thu hồi nợ vay trong trường hợp bà P, ông Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ tại Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng đã ký kết là có căn cứ phù hợp với các quy định nên chấp nhận.

[4] Về án phí, lệ phí: Căn cứ Khoản 1 Điều 147, Khoản 1 Điều 157, Khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ. Ngân hàng TMCP B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và lệ phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Chị Nguyễn Thị Phương L, anh Nguyễn Đức Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và lệ phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 155, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 203, Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27, Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 323, Điều 351, Điều 352, Điều 353, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ vào Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phầB (TMCP) Bản Việt.

Buộc bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn Đ phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền nợ tính đến ngày 09/7/2024 tổng cộng là 2.652.690.675 đồng, trong đó số tiền gốc là 2.299.692.287 đồng, lãi suất trong hạn là 24.508.862 đồng; lãi phạt chậm trả lãi là 1.658.545 đồng, lãi phạt chậm gốc là 326.830.981 đồng của Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0352200043800 ngày 04/11/2022.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày giải quyết sơ thẩm (ngày 10/7/2024) bà P, ông Đ còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng cấp hạn mức tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của tổ chức tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho tổ chức tín dụng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn Đ không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP B thì Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 03522000050400 ngày 30/10/2020, số công chứng 10675, quyển số 11TP/CC –SCC/HĐGD; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0352000050500 ngày 30/10/2020, số công chứng 10676, quyển số 11TP/CC –SCC/HĐGD và Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 0352000050401 (Lần 1) ngày 04/11/2021 số công chứng: 7970, quyển số 08/2021TP/CC-SCC/HĐGD tất cả đều do Văn phòng C, thành phố P, tỉnh Bình Thuận chứng nhận. Tài sản thế chấp là: + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 131007, số vào sổ cấp GCN: CS 08943 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/3/2020, cấp đứng tên hộ ông Nguyễn Văn Đ. + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 805881, số vào sổ cấp GCN: CH 09434 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 17/9/2020, cấp đứng tên ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị P. Tất cả quyền sử dụng đất tọa lạc tại: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận và được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 30/10/2020 tại Chi nhánh văn phòng Đ1, tỉnh Bình Thuận để thanh toán nợ của bà P, ông Đ cho Ngân hàng TMCP B.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ngân hàng TMCP B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền 39.644.000đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012984 ngày 24/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn Đ phải chịu 85.053.813 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Nguyễn Thị Phương L, anh Nguyễn Đức Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

3/ Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn Đ phải chịu 1.200.000đồng lệ phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Do Ngân hàng TMCP B đã nộp đủ số tiền trên tại Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên bà P, ông Đ có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP B.

Ngân hàng TMCP B không phải chịu lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ.

Chị Nguyễn Thị Phương L, anh Nguyễn Đức Q không phải chịu lệ phí xem xét, thẩm định tại chỗ

4/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Chi cục THADS H.Hàm Thuận Bắc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mi Mi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/ DS-ST. ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 84/2024/ DS-ST.
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger