TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2024/DS-ST Ngày: 08/8/2024. V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn Linh
Các hội thẩm nhân dân: Ông K’Dung
Bà Trần Thị Thanh Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Trọng Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 82/2024/TLST - DS ngày 05/4/2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST - DS ngày 17 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2024/QĐST-DS ngày 02/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H (H1).
Địa chỉ: B B, đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T, Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng N, chức vụ: Giám đốc ngân hàng TMCP phát triển Thành phố H, chi nhánh L.
Địa chỉ: 1 T, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: bà Lê Thị Thanh H, sinh năm: 1988.
Địa chỉ: 1 T, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: Vợ chồng ông Chung Diệp P, sinh năm: 1987, bà Vũ Cẩm T1, sinh năm: 1988.
Địa chỉ: tổ dân phố B, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt; vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Lê Thị Thanh H trình bày: Vào ngày 17/6/2022 vợ chồng ông Chung Diệp P và bà Vũ Cẩm T1 có ký hợp đồng vay vốn tại ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H (H1) với số tiền là 1.500.000.000đồng, thời gian vay là 12 tháng kể từ ngày 22/6/2022, hình thức vay vốn gốc trả cuối kỳ 12 tháng, lãi trả 3 tháng/lần vào ngày 25 hàng tháng ngày trả đầu tiên là ngày 25/9/2022. Lãi suất cho vay trong hạn 10.8%/năm theo khế ước nhận nợ, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, phạt chậm trả lãi là 10%/năm.
Từ tháng 6/2022 đến tháng 10/2022 vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 vẫn thanh toán lãi cho ngân hàng với tổng số tiền lãi là 42.608.219 đồng nhưng từ tháng 10/2022 cho đến nay vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 không trả tiền gốc và lãi cho ngân hàng. Trong quá trình vay vốn ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 đã vi phạm hợp đồng tín dụng đối với khoản tiền vay mặc dù ngân hàng đã đôn đốc nhắc nhở nhiều lần nhưng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 không có thiện chí trả nợ cho ngân hàng. Năm 2023 và năm 2024 ngân hàng đã thông báo thu hồi nợ trước hạn tuy nhiên đến nay ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 vẫn không thực hiện.
Vì vậy, ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 phải trả cho ngân hàng số nợ gốc là 1.500.000.000đồng và lãi quá hạn, lãi phạt theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng. Tiền lãi trong hạn tính đến ngày xét xử là ngày (08/8/2024) là 119.125.239đồng; lãi quá hạn là 336.057.534đồng; phạt chậm trả lãi (đối với lãi quá hạn) là 16.480.162 đồng. Tổng cộng là 1.971.614.242đồng. Đồng thời, Ngân hàng yêu cầu Tòa án tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số 23429/22MN/HĐBĐ ngày 17/6/2022 giữa vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 với ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H để đảm bảo cho thi hành án sau này. Ngoài ra ngân hàng không yêu cầu gì thêm.
Bị đơn vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1: trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc; thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, bị đơn vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 đều vắng mặt không có lý do và cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H (H1).
Vụ án đã được Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng không hòa giải được do vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, của Hội đồng xét xử, sự chấp hành pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H (H1) về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1. Buộc vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H (H1) số tiền gốc là 1.500.000.000đồng và tiền lãi suất trong hạn là 119.125.239 đồng, lãi suất quá hạn là 336.057.534 đồng và tiền phạt chậm trả lãi là 16.480.162 đồng. Tổng cộng là 1.971.614.242 đồng. Ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi suất theo hợp đồng tín dụng hạn mức cho đến khi trả nợ xong cho ngân hàng. Trường hợp ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý đối với tài sản đảm bảo theo hợp đồng thế chấp.
Về án phí:
Buộc vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ tài sản phải trả cho ngân hàng và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng nên cần căn cứ Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 theo thủ tục chung là phù hợp.
[2] Về quan hệ tranh chấp: xuất phát từ việc vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 có thế chấp quyền sử dụng đất và ký vay vốn của Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H. Đến hạn trả nợ vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 trả nợ nên cần xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung tranh chấp: qua xem xét lời khai của đương sự đối chiếu với các tài liệu chứng cứ do đương sự xuất trình thì thấy rằng: Theo chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thể hiện vào ngày 17/6/2022 Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H có ký hợp đồng tín dụng hạn mức số 27171/22MN/HĐTD với vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1, theo đó Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H cho vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 vay số tiền là 1.500.000.000đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất trong hạn là 10.8%năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất chậm trả 10%/năm. Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 đã thế chấp cho Ngân hàng diện tích đất 121.7m² thuộc thửa số 728, tờ bản đồ số 44, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng được điều chỉnh trang 4 chuyển nhượng cho ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 ngày 23/5/2022. Hợp đồng thế chấp trên đã được công chứng tại phòng C vào ngày 17/6/2022 và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Xét thấy: Vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 đã ký hợp đồng tín dụng và vay vốn tại Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H và vay số tiền 1.500.000.000đồng. Sau khi vay vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo các nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Do đó, căn cứ theo quy định tại điều 463 và 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 100 và 103 Luật các tổ chức tín dụng, cần chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng, buộc vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 1.500.000.000đồng cùng với tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là hoàn toàn phù hợp.
Về việc thanh toán nợ: ngân hàng xác định số nợ của vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 tính đến ngày 08/8/2024 số tiền gốc là 1.500.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn 119.125.239đồng; lãi quá hạn là 336.057.534 đồng; phạt chậm trả lãi (đối với lãi quá hạn) 16.480.162đồng. Tổng cộng là 1.971.614.242đồng.
Qua đối chiếu với chứng từ tính lãi của Ngân hàng và các quy định của pháp luật liên quan thì lãi suất Ngân hàng yêu cầu là phù hợp với sự thỏa thuận của các đương sự ghi trong hợp đồng tín dụng, đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ đã ký và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu trả nợ gốc và nợ lãi của Ngân hàng là phù hợp.
Đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất cho đến khi trả nợ xong cho Ngân hàng, xét thấy: để đảm bảo cho khoản vay 1.500.000.000đồng, vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 đã thế chấp cho Ngân hàng diện tích đất 121.7m² thuộc thửa số 728, tờ bản đồ số 44, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng được điều chỉnh trang 4 chuyển nhượng cho ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1, qua xem xét các tài liệu chứng cứ do phía Ngân hàng xuất trình và kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ xác định tại thời điểm thế chấp toàn bộ quyền sử dụng đất thế chấp đã được cấp quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1. Việc thế chấp đã được tiến hành đăng ký theo quy định của pháp luật. Tại thời điểm xem xét, thẩm định tại chỗ, tài sản thế chấp vẫn do ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 đứng tên, không có tranh chấp nên cần tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất cho đến khi vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng là phù hợp.
[3] Về chi phí tố tụng: do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 phải chịu toàn bộ số tiền chi phí tố tụng là 2.700.000đồng để hoàn trả cho Ngân hàng (số tiền này nguyên đơn đã nộp đủ và đã được quyết toán xong).
[4] Về án phí: do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 227, Điều 228; Điều 266 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 317; Điều 318; Điều 320; Điều 322; Điều 463; Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 100, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H (H1) về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1.
- Buộc vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H (H1) số tiền nợ gốc là 1.500.000.000đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng), tiền nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 08/8/2024) là 471.614.242đồng (Bốn trăm bảy mươi mốt triệu, sáu trăm mười bốn nghìn, hai trăm bốn mươi hai đồng), trong đó tiền lãi trong hạn là 119.125.239đồng (Một trăm mười chín triệu, một trăm hai mươi lăm nghìn, hai trăm ba mươi chín đồng); lãi quá hạn (đối với quá hạn gốc) và tiền phạt chậm trả lãi (đối với lãi quá hạn) là 352.489.003đồng (Ba trăm năm mươi hai triệu, bốn trăm tám mươi chín nghìn, không trăm không ba đồng). Tổng cộng là 1.971.614.000đồng. (Một tỷ chín trăm bảy mươi mốt triệu sáu trăm mười bốn nghìn đồng). (Đã làm tròn số).
Đồng thời, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 08/8/2024) vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 còn phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 27171/22MN/HĐTD ngày 17/6/2022 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H.
Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số 23429/22MN/HĐBĐ ngày 17/6/2022 giữa Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H và vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 cho đến khi vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 trả nợ xong cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H.
- Về án phí: Buộc vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 phải chịu 71.148.000đồng (Bảy mươi mốt triệu một trăm bốn mươi tám nghìn đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm. (Đã làm tròn số).
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 32.252.000đồng (Ba mươi hai triệu, hai trăm năm mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004606 ngày 05/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Lâm Hà.
- Về chi phí tố tụng: Buộc vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T1 phải thanh toán lại cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H số tiền 2.700.000đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền `thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Sơn Linh |
Bản án số 84/2024/DS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 84/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh và bị đơn vợ chồng ông Chung Diệp P, bà Vũ Cẩm T
