Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 94/2024/HS-PT

Ngày: 08-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Hùng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Công Hoàn
Ông Nguyễn Hữu Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 78/2024/TLPT-HS ngày 03/5/2024 đối với bị cáo Phạm Thị Đ và đồng phạm; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HS-ST ngày 14/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

- Các bị cáo kháng cáo:

  1. Phạm Thị Đ, sinh năm: 1970 tại tỉnh Nam Định; giới tính: Nữ; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 0/12; cha: Phạm Văn L (đã chết), mẹ: Nguyễn Thị T (đã chết); chồng: Nguyễn Văn K, sinh năm 1966; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/11/2023 đến ngày 16/11/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  2. Trần Thị L1, sinh năm: 1971 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nữ; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 1/12; cha: Trần Cầu (đã chết), mẹ: Vương Thị N (đã chết); chồng: Vương Đ1, sinh năm 1968; con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bản án số 05/2012/HSST ngày 11/01/2012 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng xử phạt 10.000.000đ về hành vi “Đánh bạc”, do sự thay đổi của pháp luật nên bị cáo được miễn chấp hành án và đình chỉ thi hành án vào ngày 22/8/2017. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/11/2023 đến ngày 16/11/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  3. Nguyễn Thị L2, sinh năm: 1981 tại tỉnh Nam Định; giới tính: Nữ; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn A, xã N, huyện Đ, Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 0/12; Cha: Nguyễn Trọng H, mẹ: Trần Thị D, chồng: Phạm Văn L3 sinh năm 1978, con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/11/2023 đến ngày 16/11/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Trong vụ án này, còn có các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 45 ngày 13/11/2023, Công an huyện Đ tiến hành kiểm tra nhà của Phạm Thị Đ tại thôn Đ, Đ, Đ, Lâm Đồng phát hiện 04 đối tượng đang có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài cào liêng. Công an huyện Đ tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tiền và các tang vật liên quan đến hành vi đánh bạc bao gồm: Phạm Thị Đ, Trần Thị L1, Đỗ Đức P và Nguyễn Thị L2.

Quá trình điều tra ban đầu xác định: Vào khoảng 14 giờ 30 ngày 13/11/2023, Trần Thị L1, Nguyễn Thị L2 đến nhà của PhạmThị Đông tại thôn Đ, xã Đ. Tại đây, các đối tượng rủ nhau đánh bạc ăn thua bằng tiền mặt dưới hình thức đánh bài cào liêng, khoảng 15 giờ thì Đỗ Đức P đến và tham gia đánh bạc cùng với L1, L2, Đ. Đến 15 giờ 45 cùng ngày, khi đang đánh bạc thì lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến hành vi đánh bạc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Phạm Thị Đ, Trần Thị L1, Nguyễn Thị L2, Đỗ Đức P đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài liêng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Phạm Thị Đ, Đỗ Đức P, Trần Thị L1 và Nguyễn Thị L2 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Riêng đối với các bị cáo Phạm Thị Đ và Nguyễn Thị L2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đỗ Đức P phạm tội khi chưa được xóa án tích nên áp dụng tình tiết tái phạm đối với bị cáo để xử lý.

Vật chứng thu giữ:

  • - Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 5.350.000đ (năm triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng).
  • - 01 (một) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 (một) chiếu nhựa; 01 (một) mền vải.
  • - Tiền trong người các đối tượng dùng để đánh bạc:
    • + Phạm Thị Đ: 400.000đ (bốn trăm ngàn đồng)
    • + Trần Thị L1: 2.650.000đ (hai triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng)
    • + Nguyễn Thị L2: 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm ngàn đồng)

Như vậy tổng số tiền đánh bạc trong vụ án đã chứng minh được là 12.900.000đ (mười hai triệu chín trăm ngàn đồng).

Ngoài ra Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ còn thu giữ của Đỗ Đức P số tiền 6.500.000₫ (sáu triệu năm trăm ngàn đồng), không dùng vào mục đích đánh bạc.

Hiện số tiền đã thu giữ và vật chứng trên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Trọng chờ xử lý.

Cáo trạng số: 21/CT - VKS ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng đã truy tố đối với các bị cáo Phạm Thị Đ, Đỗ Đức P, Trần Thị L1 và Nguyễn Thị L2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 14/3/2024 của TAND huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng đã xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Thị Đ, Trần Thị L1, Đỗ Đức P và Nguyễn Thị L2 phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Đức P.

Xử phạt bị cáo Đỗ Đức P 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 13/11/2023. Xử phạt bổ sung bị cáo P số tiền 10.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thị L1.

Xử phạt bị cáo Trần Thị L1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/11/2023 đến ngày 16/11/2023 vào thời hạn chấp hành án. Xử phạt bổ sung bị cáo L1 số tiền 10.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị L2 và Phạm Thị Đ.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L2 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 13/11/2023 đến ngày 16/11/2023 vào thời hạn chấp hành án. Xử phạt bổ sung bị cáo L2 số tiền 10.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 13/11/2023 đến ngày 16/11/2023 vào thời hạn chấp hành án. Xử phạt bổ sung bị cáo Đ số tiền 10.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra bản án còn tuyên án phí, tuyên về xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 18/03/2024 bị cáo Nguyễn Thị L2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt chuyển từ tù giam thành hình phạt tiền. Ngày 19/03/2024, các bị cáo Phạm Thị Đ, Trần Thị L1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo, không thắc mắc, khiếu nại bản án sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Phạm Thị Đ, Nguyễn Thị L2, Trần Thị L1, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[3] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 13/11/2023, các bị cáo Phạm Thị Đ, Trần Thị L1, Đỗ Đức P và Nguyễn Thị L2 đánh bạc dưới hình thức đánh bài cào liêng ăn thua bằng tiền mặt với số tiền xác định sử dụng đánh bạc là 12.900.000đ (mười hai triệu chín trăm ngàn đồng).

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Thị L1 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phạm Thị Đ, Nguyễn Thị L2 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo thì thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét: Bị cáo L1 có 1 tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 điều 51 là thành khẩn khai báo; các bị cáo Phạm Thị Đ và Nguyễn Thị L2 có 2 tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo L2, Đ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin chuyển hình phạt từ tù giam thành hình phạt tiền và xin hưởng án treo. Đồng thời các bị cáo xuất trình tình tiết mới là biên lai nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung 10.200.000 (mười triệu hai trăm ngàn) đồng (theo Biên lai số 0001065 ngày 19/6/2024; 0001070 ngày 19/6/2024; 0001071 ngày 20/6/2024 của Chi cục thi hành án huyện Đức Trọng), bị cáo L1 xuất trình hồ sơ bệnh án và đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn. Bản thân các bị cáo là phụ nữ, trình độ nhận thức về pháp luật hạn chế, số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc ít, các bị cáo là dân lao động, hoàn cảnh gia đình khó khăn do vậy áp dụng thêm cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Do vậy, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt cho các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho các bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.
  2. Tuyên bố các bị cáo Trần Thị L1, Phạm Thị Đ và Nguyễn Thị L2 phạm tội “Đánh bạc”.
    • - Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thị L1.
    • Xử phạt bị cáo Trần Thị L1 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 08-7-2024). Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ để sung ngân sách nhà nước. (bị cáo đã nộp đủ theo Biên lai số 0001065 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Trọng).
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị L2 và Phạm Thị Đ.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L2 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử tháng 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 08-7-2024). Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ để sung ngân sách nhà nước. (bị cáo đã nộp đủ theo Biên lai số 0001071 ngày 20/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Trọng).
    • Xử phạt bị cáo Phạm Thị Đ 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử tháng 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 08-7-2024). Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ để sung ngân sách nhà nước. (bị cáo đã nộp đủ theo Biên lai số 0001070 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Trọng)

Giao bị cáo Phạm Thị Đ, Trần Thị L1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; giao bị cáo Nguyễn Thị L2 cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình của người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

(đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo)

  1. Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Vụ GĐKT I – TANDTC (01);
  • - Phòng KTNV&THA (04);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - TAND huyện Đức Trọng (06);
  • - VKSND huyện Đức Trọng (01);
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Đức Trọng (01);
  • - Cơ quan THAHS huyện Đức Trọng (01);
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Hồ sơ THAHS (03);
  • - Lưu hồ sơ; Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đỗ Mạnh Hùng.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HS-PT ngày 08/07/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng về hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 94/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Đ và đồng phạm "Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger