Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

Bản án số:84/2024/HSST

Ngày: 06/9/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Hạ Tuấn

+ Bà Nguyễn Thị Vân

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2024/HSST ngày 02/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 19/8/2024 đối với bị cáo:

  1. Nguyễn Hồng N - sinh năm 1991, Nơi ĐKHKTT và nơi ở: thôn V, xã H, huyện M, TP .; Giới tính: nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Nguyễn Trung L (Đã chết); con bà Phạm Thị H (đã chết); Chồng là: Ngô Mạnh T (Đã ly hôn); Có 01 con: sinh năm: 2016; Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo đầu thú, áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Đoàn Thị N1 - sinh năm 1991, Nơi ĐKHKTT: thôn N, xã H, huyện Ứ, TP .; Nơi ở hiện tại: thôn Đ, xã H, huyện Ứ, TP .; Giới tính: nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Đoàn Phú Q; con bà Nguyễn Thị L1; Chồng là: Nguyễn Văn Đ- sinh năm: 1990; Có 02 con: lớn sinh năm: 2012, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/5/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
  • - Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Thị N1 là ông Đỗ Xuân Đ1 – Luật sư của Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • + Anh Nguyễn Trường D – sinh năm: 2004 (Vắng mặt)
    • Địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện Ứ, TP .
    • + Anh Nguyễn Văn Đ – sinh năm: 1990 (Có mặt)
    • Địa chỉ: thôn N, xã H, huyện Ứ, TP .
  • - Người làm chứng:
    • +Anh Trần Thanh H1 – sinh năm: 1973 (Vắng mặt)
    • Địa chỉ: Phố T, TT. V, huyện Ứ, Tp .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cuối tháng 4/2024, Nguyễn Hồng N mua được 01 túi ma tuý ketamine với giá 3.000.000 đồng của một người đàn ông không quen biết ở khu vực phường L, quận H, thành phố Hà Nội và mang về cất giấu tại nhà mục đích có ai hỏi mua sẽ bán kiếm lời.

Khoảng 14 giờ ngày 22/5/2024, Nguyễn Trường D nhắn tin qua ứng dụng Zalo đến tài khoản của Đoàn Thị N1 và hỏi mua ma túy thì N1 đồng ý.

Đến 15 giờ cùng ngày, Đoàn Thị N1 gọi điện, nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho Nguyễn Hồng N bảo có khách hỏi mua ma túy, Nguyễn Hồng N đồng ý bán với giá 3.400.000 đồng. Đoàn Thị N1 bảo Nguyễn Hồng N cầm lên bán cho khách tại thị trấn V, huyện Ứ thì Nguyễn Hồng N bảo Đoàn Thị N1 lấy thêm của khách 300.000 đồng tiền công giao. Sau đó, Đoàn Thị N1 nhắn lại cho D, bảo D chuyển 3.700.000 đồng (gồm 3.400.000 đồng tiền ma túy và 300.000 đồng tiền công) đến số tài khoản 888803111991 Ngân hàng T2 – chủ tài khoản Nguyễn Hồng N. Sau khi nhận được tiền chuyển khoản từ D, Nguyễn Hồng N bảo Đoàn Thị N1 đến nhà đón. Đoàn Thị N1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu trắng biển kiểm soát 29Y3-377.10 đến nhà đón Nguyễn Hồng N tại thôn T, thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội. Trên đường đi Nguyễn Hồng N đưa 01 túi ma túy cho Đoàn Thị N1, khi đến cầu H, Nguyễn Hồng N xuống xe ngồi đợi ở quán nước còn Đoàn Thị N1 đi vào trong ngõ thuộc địa phận Trần Đăng N2, thị trấn V, huyện Ứ giao 01 gói ma túy cho D. Thời điểm này khoảng 17 giờ 30 phút ngày 22/5/2024, khi Đoàn Thị N1 đang bán túi ma túy cho Nguyễn Trường D thì bị Tổ Công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy, Đội Cảnh sát trật tự và Công an thị trấn V phối hợp làm nhiệm vụ bắt quả tang. Tại chỗ D giao nộp 01 túi ni lông kích thước (5x3)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng và khai nhận đó là ma túy mua của Đoàn Thị N1 với giá 3.700.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản. Tổ Công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và chuyển Đoàn Thị N1, Nguyễn Trường D về Cơ quan CSĐT – Công an huyện Ứ để giải quyết theo quy định pháp luật.

*Vật chứng thu giữ:

  • - 01 túi ni lông kích thước (5x3)cm bên trong có tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Trường D, Đoàn Thị N1
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Trường D.
  • - 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu trắng biển kiểm soát 29Y3-377.10 thu giữ của Đoàn Thị N1;

Sau khi biết Đoàn Thị N1 bị Công an bắt; Cùng ngày, Nguyễn Hồng N đầu thú tại Công an huyện Ứ khai nhận về hành vi bán trái phép ma túy của mình và tự nguyện giao nộp điện thoại di động sử dụng để nhắn tin Zalo trao đổi việc mua bán ma túy với Đoàn Thị N1 đồng thời khai nhận còn tàng trữ ma túy tại nhà với mục đích để bán.

* Vật chứng thu giữ của Nguyễn Hồng N: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím đã qua sử dụng.

Ngày 22/5/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Ứ đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hồng N và tổ chức thi hành, kết quả: thu giữ 01 túi ni lông kích thước (10x6)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.

Ngày 23/5/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Ứ đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đoàn Thị N1, kết quả không thu giữ gì.

Cùng ngày 22/5/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứ đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 833 đối với số ma tuý thu giữ của Nguyễn Trường D và Đoàn Thị N1, Nguyễn Hồng N.

Tại bản kết luận giám định số 3817/KL-KTHS ngày 01/6/2024 của phòng K - Công an thành phố H, kết luận:

  • - Tang vật thu giữ của Nguyễn Trường D, Đoàn Thị N1:
    • + Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 0,328gam.
  • - Tang vật thu giữ khi khám xét chỗ ở của Nguyễn Hồng N:
    • + Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 1,258gam.

Ngày 24/5/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứ đã ra Lệnh phong toả tài khoản số 349 đối với tài khoản 888803111991, tại Ngân hàng T2 mang tên Nguyễn Hồng N, số tiền 3.700.000 đồng;

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 01/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố Nguyễn Hồng N và Đoàn Thị N1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” qui định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo Nguyễn Hồng N áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt: bị cáo Nguyễn Hồng N từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù, thời điểm tù được tính từ ngày bắt để thi hành án. Xử phạt bị cáo Đoàn Thị N1 từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam ngày 22/5/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Xử lý vật chứng:

  • + Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý gửi lại sau giám định.
  • + Tịch thu sung hoá giá, sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Trường D. 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Đoàn Thị N1; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Hồng N.
  • + Buộc bị cáo Nguyễn Hồng N phải nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 3.700.000 đồng.
  • Trả lại cho bị cáo anh Nguyễn Văn Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu trắng biển kiểm soát 29Y3-377.10 thu giữ của Đoàn Thị N1;
  • + Gỡ phong toả đối với tài khoản 888803111991, tại Ngân hàng T2 chi nhánh T3 mang tên Nguyễn Hồng N.
  • - Về án phí: các Bị cáo phải nộp tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  • - Quan điểm bào chữa của luật sư Đỗ Xuân Đ1: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo đang nuôi con nhỏ, lần đầu phạm tội, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, không được hưởng lợi từ việc mua bán, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ hơn mức đề nghị của đại diện viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Qúa trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.
  2. Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Ngày 22/5/2024, tại phố T, thị trấn V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội, Nguyễn Hồng N và Đoàn Thị N1 đã bán trái phép 0,328 gam ma túy Ketamine cho Nguyễn Trường D với giá 3.700.000 đồng. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hồng N thu giữ 1,258 gam ma túy loại Ketamine, Hồng N khai nhận cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời.

    Do vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Hồng N và Đoàn Thị N1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.

    Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, mà còn làm gia tăng tệ nạn xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và dăn đe, phòng ngừa chung.

  3. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

    Xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra sau này bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm của mình, tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị cáo Nguyễn Hồng N đã tự giác ra đầu thú, hiện đang mang thai nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  4. Xét về vai trò của các bị cáo: vụ án có tính chất đồng phạm, bị cáo Nguyễn Hồng N là người đưa ma tuý cho Đoàn Thị N1 mang đi bán. Bị cáo Đoàn Thị N1 giữ vai trò giúp sức tích cực, là người kết nối, trung gian hỏi mua ma tuý từ Nguyễn Hồng N cho Nguyễn Trường D, Đoàn Thị N1 còn chở Hồng N đi bán ma tuý, là người trực tiếp đi giao ma tuý cho D. Do đó, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định và phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục.
  5. Đối với nguồn gốc số ma túy: bị cáo Nguyễn Hồng N khai mua của 01 nam thanh niên không quen biết khoảng 25 đến 30 tuổi đứng ven đường thuộc khu vực phường L, quận H, thành phố Hà Nội. Nhung không nhớ rõ đặc điểm, không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể người này, việc mua bán ma túy diễn ra ngoài đường không có ai khác biết. Do vậy, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ xác minh làm rõ.

    Đối với Nguyễn Trường D, ngày 22/5/2024 đã mua một túi ma túy có khối lượng: 0,328gam Ketamine, dưới mức tối thiểu của Bộ luật Hình sự quy định, bản thân D chưa có tiền án tiền sự gì, do vậy hành vi của D không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngày 25/7/2024, Công an huyện Ứ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Trường D là có căn cứ.

  6. Về vật chứng: Số ma túy gửi lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy;
    • - 03 chiếc điện thoại thu giữ của Nguyễn Hồng N, Đoàn Thị N1 và Nguyễn Trường D đã sử dụng làm phương tiện liên lạc mua bán ma tuý do đó, cần tịch thu hoá giá sung vào ngân sách nhà nước.
    • - Đối với 01 (một) xe mô tô; Đặc điểm: Nhãn hiệu SH Mode màu trắng-nâu, biển kiểm soát: 29Y3-377.10. Tình trạng: Đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Đoàn Thị N1. Bị cáo N1 khai là tài sản chung của hai vợ chồng, anh Nguyễn Văn Đ là chồng của bị cáo có đơn xin lại chiếc xe để làm phương tiện đi lại. Hội đồng xét xử thấy cần tạo điều kiện trả lại cho anh Đ để anh có phương tiện đi lại, lao động kiếm sống nuôi các con.
    • - Số tiền 3.700.000 đồng Nguyễn Hồng N nhận từ Nguyễn Trường D là tiền mua bán ma tuý mà có, hiện đang trong tài khoản 888803111991, tại Ngân hàng T2 chi nhánh T3 mang tên Nguyễn Hồng N, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Tại thời điểm phong tỏa, số dư tài khoản này chỉ có 68.251 đồng. Do đó, buộc bị cáo Nguyễn Hồng N phải nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 3.700.000 đồng tiền mua bán ma túy mà có.
    • Gỡ phong toả đối với tài khoản 888803111991, tại Ngân hàng T2 Chi nhánh T3 mang tên Nguyễn Hồng N.
  7. Về án phí: mỗi Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
    • - Tuyên bố bị cáo Đoàn Thị N1 phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý
    • - Xử phạt Đoàn Thị N1 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 22/5/2024.
    • • Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm n, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật Hình sự;
    • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng N phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý"
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt để thi hành án.
    • Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín; Đặc điểm: Mặt sau có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Q1, Cán bộ Nguyễn Đức T1, các đối tượng Đoàn Thị N1 và Nguyễn Trường D tại các mép niêm phong; Tình trạng: Nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong dán kín; Đặc điểm: Mặt sau có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Q1, Cán bộ Nguyễn Đức T1, đối tượng Nguyễn Hồng N tại các mép niêm phong; Tình trạng: Nguyên vẹn;
    • - Tịch thu hoá giá sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động; Đặc điểm: Nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím; Tình trạng: Đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động; Đặc điểm: Nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím; Tình trạng: Đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động; Đặc điểm: Nhãn hiệu POCO màu xanh; Tình trạng: Đã qua sử dụng;
    • - Trả lại cho anh Nguyễn Văn Đ: 01 (một) xe mô tô; Đặc điểm: Nhãn hiệu SH Mode màu trắng-nâu, biển kiểm soát: 29Y3-377.10. Tình trạng: Đã qua sử dụng.
    • (Vật chứng có tình trạng, đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ứ, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa ngày 06/8/2024)
    • - Buộc bị cáo Nguyễn Hồng N phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 3.700.000 đồng.
    • - Gỡ phong toả tài khoản 888803111991, tại Ngân hàng T2 Chi nhánh T3 mang tên Nguyễn Hồng N
  3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015;

    Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ (Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo nội dung liên quan đến quyền lợi của chính mình)./.

Thành viên hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - CA, VKS, THADS Ứng Hòa;
  • - Bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thanh Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HSST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 84/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Đoàn Thị N và Nguyễn Hồng N phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger