Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 84/2024/HS-ST

Ngày 06-5-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Thu Thủy

Các hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Tư
  2. Bà Nguyễn Thị Biên

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Văn Hưng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Chu Ngọc Linh – Kiểm sát viên

Trong ngày 06 tháng 5 năm 2024 tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn H, sinh năm 1985; tên gọi khác: Không có; nơi ĐKHKTT: Khu Y, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nơi ở hiện nay: Số nhà A, ngõ H, đường T, tổ dân phố T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa 12/12; con ông: Trần Tử B, sinh năm 1954; con bà: Nguyễn Thị B1, sinh năm 1955; có vợ: Lê Thị T, sinh năm 1988 (đã ly hôn); bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015.

- Tiền án: Bản án số 83/2022/HS-ST ngày 31/8/2022 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù tội “ Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/4/2023.

- Nhân thân: Bản án số 79/2009/HS-ST ngày 24/11/2009 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 5 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt tại phiên tòa trực tuyến.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

  1. Ông Trần Đức T1, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Nơi ĐKHKTT: Thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn

Nơi ở hiện nay: Số nhà 06, ngách 10/4, ngõ 142, đường Huyền Quang, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

  1. Bà Đoàn Thị T2, sinh năm 1966 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà F, ngách A, ngõ A, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

* Người chứng kiến:

  1. Ông Nguyễn Huy L, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

  1. Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1944 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, đê C, tổ dân phố T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn H sinh sống cùng chị Trần Thị B2, sinh năm 1991 tại số nhà A, ngõ H, đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang từ khoảng năm 2014 đến nay.

Khoảng ngày 14/12/2023, Trần Văn H đến khu vực đầu cầu sắt thuộc khu vực phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh mua của người phụ nữ tên D 3.000.000 đồng ma tuý H1, 5 viên ngựa và ma tuý đá; H đem về nhà dùng dao lam và cân điện tử chia nhỏ số ma tuý Heroine, dùng giấy bạc gói lại được khoảng 30 gói, số ma tuý đá và ngựa H để trong túi nilon, mục đích để sử dụng và bán cho khách. H đã sử dụng hết số ma tuý đá, ngựa và một số gói ma tuý Heroine.

Buổi chiều ngày 18/12/2023, H tình cờ gặp Trần Đức T1, sinh năm 1963; nơi ĐKHKTT: thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi ở hiện tại: số nhà F, ngách A, ngõ A, đường H, phường H, thành phố B tại khu vực đường H thuộc phường H, thành phố B. Tại đây T1 hỏi mua 01 gói ma túy Heroine của H hẹn trả tiền sau, H đồng ý bán cho T1 với giá 100.000 đồng và bảo khi nào có ma túy thì H sẽ báo lại. Khoảng 07 giờ ngày 19/12/2023, H lấy 01 gói ma túy Heroine, dùng giấy ăn bọc lại rồi cho vào một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG” màu vàng và cầm số ma túy này đi từ nơi ở đến khu vực bờ đê C, phường L, thành phố B. H để vỏ bao thuốc lá chứa ma túy tại nền đường gần vị trí trụ chân bậc lên xuống đường đi lên bờ đê C mục đích để bán cho T1 rồi H trở về nhà. Ngay sau đó H sử dụng số điện thoại “0989.191.xxx” gọi đến số điện thoại “0362.158.xxx” của T1 chỉ dẫn T1 đến lấy ma túy tại vị trí H vừa cất giấu thì T1 đồng ý.

Khoảng 12 giờ 00 ngày 19/12/2023, T1 điều khiển xe mô tô BKS: 98H9-7803 đi một mình từ nhà đến khu vực bậc lên xuống đường đi lên bờ đê C, phường L, thành phố B thấy một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG” màu vàng để tại trụ chân bậc lên xuống. Biết đó là ma túy H bán, T1 cầm lấy vỏ bao thuốc chứa ma túy gài ở giá để đồ xe mô tô rồi điều khiển xe đi đến khu vực công viên H, phường H, thành phố B để sử dụng. Khi đến khu vực cổng số 1 công viên H, T1 bị tổ công tác Công an phường H, thành phố B phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của T1: 01 (một) gói giấy loại giấy ăn kiểm tra bên trong có 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt đều màu trắng bạc bên trong đựng chất cục bột màu trắng- nghi là ma túy- được phát hiện thu giữ trong một bao thuốc là nhãn hiệu “THĂNG LONG” màu vàng được gài ở giá xe mô tô BKS 98H9-7803 do Trần Đức T1 điều khiển khi bị bắt được niêm phong tại chỗ trong 01 phong bì thư ký hiệu “QT”. Ngoài ra còn tạm giữ của T1: 01 Chiếc xe mô tô kiểu dáng Honda Dream, BKS: 98H9-7803, màu sơn nâu; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh.

Khoảng 13 giờ 30 ngày 19/12/2023, H lấy 01 gói ma túy Heroine bọc trong một tờ giấy ăn rồi cất giấu vào trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG” màu vàng đồng thời cầm thêm 01 (một) gói ma túy ở trên tay rồi từ nhà đi đến khu vực đường B, phường L, thành phố B. Lúc này Hạnh kiểm t không thấy bao thuốc lá đựng ma túy trước đó thì biết rằng T1 đã lấy. Ngay sau đó H để vỏ bao thuốc lá có cất giấu ma túy đang mang theo xuống nền đất gần trụ bậc lên xuống vực đường bờ đê C, còn một gói ma túy còn lại H vẫn cầm ở tay trái mục đích khi có ai hỏi mua thì sẽ bán. Khi vừa cất giấu ma túy xong thì bị tổ công tác Đội CSĐTTP về ma túy Công an thành phố B bắt quả tang. Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu "THĂNG LONG", bên trong có 01 (một) gói giấy ăn, mở ra bên trong có 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt đều màu trắng bạc, bên trong đựng chất cục bột màu trắng – nghi là ma tuý do đồng chí Nguyễn Văn D1 – cán bộ Đội CSĐTTP về ma túy phát hiện thu giữ tại nền đất gần trụ bậc thang lên xuống vực đường bờ đê C, phường L, thành phố B do Trần Văn H đặt từ trước đó, được niêm phong trong một phong bì thư kí hiệu "QT1".

- 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt đều màu trắng bạc, bên trong đựng chất cục bột màu trắng – nghi là ma tuý do đồng chí Nguyễn Văn D1 – cán bộ Đội CSĐTTP về ma túy phát hiện thu giữ tại nền đường gần vị trí Trần Văn H do H thả rơi từ tay trái xuống khi bị bắt, được niêm phong trong một phong bì thư kí hiệu "QT2".

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn H tại số nhà A, ngõ H, đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quá trình khám xét đã phát hiện và thu giữ:

01(một) hộp nhựa có chữ "Merino" có nắp đậy, mở ra bên trong có: 03 (ba) túi nilon đều có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ, bên trong đều bám dính chất bột màu trắng – nghi là ma túy, phát hiện thu giữ dưới gầm bàn tại phòng khách nhà Trần Văn H được niêm phong trong một phong bì thư ký hiệu "KX01".

- 01 (một) cân điện tử màu trắng bạc, trên bề mặt có bám dính chất bột màu trắng – nghi là ma túy, phát hiện thu giữ trong ngăn tủ phòng khách nhà Trần Văn H, được niêm phong trong một phong bì thư ký hiệu "KX02".

- 02 (hai) túi nilon màu trắng đều có một đầu có rãnh khóa nhựa, trong đó: 01 (một) túi nilon có viền màu xanh, bên trong đựng 01 (một) viên nén màu hồng đỏ; 01 (một) túi nilon có viền màu đỏ, bên trong đựng 04 (bốn) viên nén màu hồng đỏ; 02 (hai) gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc, bên trong mỗi gói đều đựng chất cục bột màu trắng; 01 (một) gói giấy bạc có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong đựng chất cục bột màu trắng. Tất cả đều nghi là ma túy, được phát hiện và thu giữ tại túi áo khoác bên trái của Trần Văn H đang treo trên tường, được niêm phong trong một phong bì thư ký hiệu "KX03".

- 01 (một) bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu "THĂNG LONG", mở ra bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, bên trong đựng: 13 (mười ba) gói giấy bạc đều có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 14 (mười bốn) gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc, bên trong mỗi gói đều đựng chất cục bột màu trắng – đều nghi là ma túy, được phát hiện và thu giữ tại túi áo khoác bên trong của Trần Văn H đang treo trên tường, được niêm phong trong một phong bì thư ký hiệu "KX04".

Ngoài ra còn tạm giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đỏ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, 01 áo khoác màu xanh đen và số tiền 1.550.000 đồng.

Cơ quan CSĐT tiến hành xét nghiệm nước tiểu của Trần Đức T1, Trần Văn H đều có kết quả dương tính với ma túy Heroine.

Kết luận giám định số 2645 ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Trong 01(một) phong bì thư ký hiệu “QT” được niêm phong gửi giám định: Trong 01( một) gói giấy, loại giấy ăn: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01( một) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc là ma tuý, loại Heroine (H), khối lượng 0,084 gam".

Kết luận giám định số 2551 ngày 25/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

“ - Trong 01(một) phong bì thư ký hiệu “QT1” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01(một) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc ( bên ngoài là 01(một) gói giấy ăn) là ma tuý, loại Heroine (H), khối lượng 0,108 gam.

- Trong 01(một) phong bì thư ký hiệu “QT2” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01(một) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc là ma tuý, loại Heroine (H), khối lượng 0,110 gam.

- Trong 01(một) phong bì thư ký hiệu “KX01” được niêm phong gửi giám định: Chất bột màu trắng bám dính trong 03(ba) túi nilon một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ đều là ma tuý, loại Heroine (H), không xác định được khối lượng mẫu.

- Trong 01(một) phong bì thư ký hiệu “KX02” được niêm phong gửi giám định: Chất bột màu trắng bám dính trên 01(một) cân điện tử màu trắng bạc là ma tuý, loại Heroine (H), không xác định được khối lượng mẫu.

- Trong 01(một) phong bì thư ký hiệu “KX03” được niêm phong gửi giám định:

+ 01(một) viên nén màu hồng đỏ và chất tinh thể màu trắng đựng trong 01(một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu xanh đều là ma tuý, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,086 gam.

+ 04 (bốn) viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01(một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ đều là ma tuý, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,380 gam.

+ Chất cục bột màu trắng đựng trong 02(hai) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc đều là ma tuý, loại Heroine (H), tổng khối lượng 0,176 gam.

+ Chất cục bột màu trắng đựng trong 01(một) gói giấy bạc có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng là ma tuý, loại Heroine ( H), khối lượng 0,072 gam.

- Trong 01(một) phong bì thư ký hiệu “KX04” được niêm phong gửi giám định: Trong 01(một) vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu THĂNG LONG: Chất cục bột màu trắng đựng trong 27 (hai mươi bảy) gói giấy bạc (trong đó có 13 (mười ba) gói giấy bạc có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng và 14 (mười bốn) gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc) ( bên ngoài là 01(một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa) đều là ma tuý, loại Heroine (H), tổng khối lượng 2,711 gam.

Quá trình điều tra, Trần Đức T1 và Trần Văn H đã khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội như trên.

Ngày 19/12/2023, Cơ quan CSĐT đã tiến hành T1 nhận dạng H qua ảnh, kết quả T1 xác định H chính là người đã bán ma tuý cho T1 vào ngày 19/12/2023.

Ngày 15/3/2024, Cơ quan CSĐT đã cho H xác định vị trí cất giấu ma tuý ở nhà và ở khu vực bờ đê C để bán cho T1 và tiến hành cho H thực nghiệm động tác chia nhỏ ma tuý, cất giấu ma tuý tại nhà. Kết quả H đã xác định vị trí giấu ma tuý bán cho T1 phù hợp với lời khai của T1 và thực hiện thuần thục hành vi chia nhỏ ma tuý gói trong các mảnh giấy bạc phù hợp lời khai và kết quả điều tra.

Cơ quan CSĐT đã kiểm tra điện thoại thu giữ của H và T1 phát hiện ở điện thoại Nokia thu giữ của T1 có lịch sử cuộc gọi đến từ số điện thoại 0989.191.xxx (lưu tên H) vào hồi 6 giờ 56 phút và 7 giờ 30 phút ngày 19/12/2023.

Về nguồn gốc số ma túy, H khai mua của một người phụ nữ tên D ở khu vực gần đầu cầu sắt thuộc phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh với giá 3.000.000 đồng vào buổi trưa ngày 14/12/2023. Do H không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của D nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh để xử lý.

Đối với chị Trần Thị B2 có mối quan hệ tình cảm với H và sinh sống cùng H tại số nhà A, ngõ H, đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Chị B2 thường ngày đi làm công nhân tại khu công nghiệp V, huyện V, tỉnh Bắc Giang đến tối mới về nhà, chị B2 không biết và không giúp sức H thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Đối với Trần Đức T1 có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói ma túy có khối lượng 0,084 gam. Bản thân Trần Đức T1 không có tiền án, tiền sự về ma túy nên hành vi của T1 không xử lý hình sự. Ngày 16/3/2024, Trưởng Công an thành phố B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Đức T1 về hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn H, Trần Đức T1 về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma tuý”

Đối với 01 chiếc xe mô tô Honda Dream, BKS: 98H9-7803, màu sơn nâu, Cơ quan CSĐT xác định chiếc xe thuộc sở hữu của bà Đoàn Thị T2, sinh năm 1966, HKTT: số nhà F, ngách A, ngõ A, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vợ của T1). Bà T2 cho T1 mượn chiếc xe mô tô nêu trên để đi làm, không biết T1 sử dụng để đi mua ma túy. Ngày 16/3/2024, Cơ quan CSĐT đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà T2.

Toàn bộ số vật chứng còn lại của vụ án được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Bản Cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì.

- Kiểm sát viên đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xác định đủ căn cứ chứng minh bị cáo Trần Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về trách nhiệm hình sự:

- Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 19/12/2023. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy 07 (bẩy) phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long
  • Trả lại T (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, được gắn sim “0362.158.263”; 01 (một) áo khoác màu xanh đen
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEI 1: “357723114544402”, số IMEI 2: “357723114544410”, gắn sim 1: "0989191762", sim 2: “0382022376";
  • Trả lại bị cáo H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đỏ, số IMEI 1: “867027048451038”, số IMEI 2: “867027048451020, lắp sim số: “0388997558”; số tiền 1.550.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại gì. Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai thừa nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường H, thành phố B lập hồi 14 giờ 10 phút ngày 19/12/2023, vật chứng thu giữ và phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng Kết luận giám định số: 2551/KL-KTHS ngày 25/12/2023 và Kết luận giám định số: 2645/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B đối với vật chứng thu giữ được giám định. Trên cơ sở lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, có cơ sở xác định:

Chiều ngày 18/12/2023, tại khu vực đường H, thuộc phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, Trần Đức T1 gặp Trần Văn H và hỏi mua của H 100.000 đồng ma tuý Heroine, tiền thanh toán sau và được H đồng ý. Khoảng 07 giờ ngày 19/12/2023, Trần Văn H lấy 01 gói ma túy Heroine, dùng giấy ăn bọc lại rồi cho vào một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG” màu vàng đi từ nhà đến để ở nền đường gần vị trí trụ chân bậc lên xuống đường đi lên bờ đê C mục đích để bán cho T1, sau đó H điện thoại cho T1 thông báo vị trí cất giấu ma tuý để T1 đến lấy. Đến khoảng 12 giờ 00 cùng ngày, T1 đi đến khu vực bậc lên xuống đường đi lên bờ đê C, phường L, thành phố B cầm lấy vỏ bao thuốc chứa ma túy gài ở giá để đồ xe mô tô theo chỉ dẫn của H rồi điều khiển xe đi đến khu vực cổng số 1 công viên H thì bị tổ công tác Công an phường H, thành phố B bắt quả tang có hành vi tàng trữ 0,084 gam Heroine, mục đích để sử dụng.

Khoảng 13 giờ 30 cùng ngày 19/12/2023 tại khu vực đường B, phường L, thành phố B, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố B phối hợp cùng Công an phường H bắt quả tang Trần Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,218 gam Heroine nhằm mục đích bán lại cho người khác. Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của H đã thu giữ 2,959 gam Heroine và 0,466 gam Methamphetamine do H cất giấu mục đích để sử dụng và bán lại cho người khác. Tổng khối lượng chất ma túy H phải chịu trách nhiệm hình sự là 3,261 gam Heroine và 0,466 gam Methamphetamine.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi mua trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây những tác hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội. Hành vi của bị cáo Trần Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Bản Cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân không tốt,

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS đối với bị cáo.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bố đẻ là ông Trần Tử B được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã từng bị đưa ra xét xử nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học để cải sửa bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện bị cáo coi thường pháp luật. Mặt khác hành vi mua bán trái phép chất ma túy còn là nguyên nhân gây ra những tội phạm khác trong đời sống gia đình và xã hội nên cần buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời cũng để răn đe, ngăn ngừa các hành vi phạm tội khác. Mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy Kiểm sát viên đề xuất tại phiên tòa là phù hợp nên áp dụng cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội có tính chất vụ lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • 07 (bẩy) phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long; 01 (một) áo khoác màu xanh đen cần tịch thu tiêu hủy.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, được gắn sim “0362.158.263” trả lại anh Trần Đức T1.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEI 1: “357723114544402”, số IMEI 2: “357723114544410”, gắn sim 1: “0989191762”, sim 2: “0382022376” của bị cáo H dùng liên lạc mua bán ma túy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đỏ, số IMEI 1: “867027048451038”, số IMEI 2: “867027048451020, lắp sim số: “0388997558”; Số tiền 1.550.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội trả lại bị cáo H.

[6] Về những vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy, H khai mua của một người phụ nữ tên D ở khu vực gần đầu cầu sắt thuộc phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh với giá 3.000.000 đồng vào buổi trưa ngày 14/12/2023. Do H không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của D nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh để xử lý.

Đối với chị Trần Thị B2 có mối quan hệ tình cảm với H và sinh sống cùng H tại số nhà A, ngõ H, đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Chị B2 thường ngày đi làm công nhân tại khu công nghiệp V, huyện V, tỉnh Bắc Giang đến tối mới về nhà, chị B2 không biết và không giúp sức H thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

Đối với Trần Đức T1 có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói ma túy có khối lượng 0,084 gam. Bản thân Trần Đức T1 không có tiền án, tiền sự về ma túy nên hành vi của T1 không xử lý hình sự. Ngày 16/3/2024, Trưởng Công an thành phố B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Đức T1 về hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn H, Trần Đức T1 về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma tuý” là có căn cứ.

Đối với 01 chiếc xe mô tô Honda Dream, BKS: 98H9-7803, màu sơn nâu, Cơ quan CSĐT xác định chiếc xe thuộc sở hữu của bà Đoàn Thị T2, sinh năm 1966, HKTT: số nhà F, ngách A, ngõ A, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vợ của T1). Bà T2 cho T1 mượn chiếc xe mô tô nêu trên để đi làm, không biết T1 sử dụng để đi mua ma túy. Ngày 16/3/2024, Cơ quan CSĐT đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà T2.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Do bị cáo đang bị tạm giam nên căn cứ Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về mức hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Văn H 04 (B3) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/12/2023. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

  1. Về xử lý vật chứng:
  • Tịch thu tiêu hủy 07 (bẩy) phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long; 01 (một) áo khoác màu xanh đen.
  • Trả lại anh Trần Đức T1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, được gắn sim “0362.158.263”;
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEI 1: “357723114544402”, số IMEI 2: “357723114544410”, gắn sim 1: “0989191762”, sim 2: “0382022376";
  • Trả lại bị cáo H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đỏ, số IMEI 1: “867027048451038”, số IMEI 2: “867027048451020, lắp sim số: “0388997558”; Số tiền 1.550.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  1. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  1. Về quyền kháng cáo: iêQuyeets

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Thu Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 84/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Hạnh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger