Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HS-PT

Ngày: 05-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Lê Phương

Ông Lê Minh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà Trang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 và ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 46/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo Lê Văn T, K Văn G và Trần Ngọc C, do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2024/HS-ST ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Bị hại có kháng cáo: Ông Nguyễn Thế H, sinh năm 1980 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

- Các bị cáo:

1/ Lê Văn T (Tên gọi khác: Xị) - Sinh năm: 1990. Nơi sinh: Bình Thuận. Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ văn hóa: 9/12. Con ông Lê Văn T1 bà Nguyễn Thị B. Vợ: K Thị H1. Con: Có 01 người con sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

2/ K Văn G - Sinh năm: 1990. Nơi sinh: Bình Thuận. Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Cơ Ho (K' Ho). Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: 3/12; con ông K Văn V và bà K Thị H2. Vợ: K Thị X. con: Có 01 người con sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

2

3/ Trần Ngọc C - Sinh năm: 1981. Nơi sinh: Bình Thuận. Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Rai. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ văn hóa: Không biết chữ; con ông Nguyễn Văn M (chết) và bà Lê Thị N (chết). Vợ: K Thị H3. Con: Có 01 người con sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn T:

1/ Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1962 - Thuộc đoàn luật sư tỉnh Đồng Nai. (có mặt)

2/ Bà Đỗ Như Thảo D, sinh năm 1995 - Thuộc đoàn luật sư thành phố H. (có mặt)

Cùng địa chỉ: Số A đường L, khu phố F, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông K Văn L, sinh năm 1989 (có mặt)

2/ Ông K Văn L1, sinh năm 1994 (có mặt)

3/ Ông K Văn B1, sinh năm 1998 (có mặt)

Cùng địa chỉ: thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

4/ Ông Lê Xuân H4, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

5/ Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận (có mặt)

6/ Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện H, tỉnh Bình Thuận (có mặt)

* Người làm chứng:

1/ Ông Huỳnh Văn H5, sinh năm 1992. Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt)

2/ Ông K Văn M2, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt)

3/ Ông Huỳnh Văn Đ1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện H, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

4/ Ông K Văn T2, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

5/ Ông K Văn N1, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

6/ Ông Phạm Đức D1, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện H, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

3

7/ Ông Thông Minh H6, sinh năm 2005. Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

8/ Ông Lê P, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

9/ Ông Trần Văn Đ2, sinh năm 1964. Địa chỉ: Khu phố G, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

10/ Ông Nguyễn Mạnh Đ3, sinh năm 1964. Địa chỉ: Khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn trước đó về việc được quản lý, kiểm soát vườn cao su nên vào khoảng 14 giờ ngày 08/6/2023, Nguyễn Thế H (T) là tổ trưởng Tổ bảo vệ của Công ty S (làm cho ông Nguyễn Mạnh Đ3 và Nguyễn Mạnh H7) cùng các bảo vệ trong nhóm gồm: Huỳnh Văn Đ1, Phạm Đức D1 (T4), K Văn N1, Lê Xuân H4, K' Văn Tú, K Văn B1, Nguyễn Văn Đ đi đến khu vực vườn cao su của Công ty S thuộc thôn C, xã Đ để kiểm tra. Khi đến nơi nhóm của H gặp nhóm công nhân làm thuê cho ông Nguyễn T3 và ông Trần Văn Đ2 gồm: Lê Văn T (Xị), K Văn G, K' Văn Lẩng, K Văn L1, Trần Ngọc C đang ngồi uống rượu, ăn cơm, ngoài ra còn có K Văn M2 (Mỹ) và Huỳnh Văn H5 (Ố) cũng đến ngồi chung uống rượu. Thấy nhóm của H đi ngang qua nên Thân và C gọi lại nói chuyện. Lúc này, Đ1 và D1 vào ngồi nói chuyện bình thường với nhóm của T, khi nhìn thấy T2 và N1 cùng H đi vào nên L và G đứng dậy ra nói chuyện, T cũng đứng dậy đi ra chỗ T2 và N1 nói: “tụi mày thích gì, có tin tao đánh tụi mày không”, B1 đứng gần đó thấy T đòi đánh T2 và N1 nên đến nói với T: “anh làm gì mà hùng hổ dữ vậy”, T tiếp tục nói: “không phải chuyện của mày, mày đi ra”, đồng thời B1 dùng tay đẩy T ra, T nói: “mày tin tao đánh mày luôn không”, thì bị B1 dùng cùi chỏ đánh T trúng vào đầu té ngã xuống đất (không gây ra thương tích), T đứng dậy bỏ chạy thì B1 rượt đuổi theo tiếp tục dùng tay đánh T làm Thân té ngã xuống đất và lấy cây dao rọc giấy do B1 mang theo đâm một nhát vào tay phải của T gây thương tích. Cùng lúc này, L, G, L1 và C thấy T bị B1 đánh nên xông đến rượt đuổi đánh B1, lúc rượt đuổi đánh B1, L đến lấy 01 con dao, L1 lấy 01 con dao, G lấy 01 cây rựa, T lấy 01 cây rựa để gần nơi nhậu, ăn cơm còn C nhặt 01 đoạn cây gỗ tại đó rồi cùng nhau rượt đánh B1, khi B1 bỏ chạy thì bị vấp té ngã, G xông đến dùng rựa chém một nhát vào vùng hông lưng trái của B1 gây thương tích. M2, H5 cùng với H4 và D1 thấy vậy nên vào can ngăn, trong lúc can ngăn G cho rằng H4 vào tham gia đánh Giao nên tiếp tục dùng rựa chém một nhát vào vùng mông trái của H4 gây thương tích. Sau đó, B1 vung ra được bỏ chạy ra hướng đường đi vào khu D. Sau khi B1 và H4 bỏ chạy thì H cũng đi bộ bỏ đi, thấy H bỏ đi, C cho rằng H là người chỉ đạo B1 đến đánh T nên C đi theo sau dùng tay đánh vào vùng đầu của Hơn 01 - 02 cái, H tiếp tục bỏ đi thì C, G, L1, T và L bao vây lại không cho đi vì đều cho rằng H đã chỉ đạo B1 đến đánh T gây thương tích. M2 và H5 thấy vậy nên vào can ngăn đẩy Hơn

4

vào phía trong vườn cao su thì T, C và G đi theo phía sau Hơn vào, còn L và L1 không tham gia cùng T, C và G, cùng lúc đó do thấy Đ cầm điện thoại quay video nên L1 cầm dao rượt đuổi Đ; L cầm dao rượt đuổi D1, M2; H5 tiếp tục chạy theo can ngăn L1 và L. Lúc này, T thấy mình bị thương chảy máu ở tay và cho rằng H đã chỉ đạo B1 đánh T nên dùng rựa chém một nhát vào phần cánh tay trái của H gây thương tích, G cũng dùng rựa chém một nhát vào vùng đùi của H nhưng không gây ra thương tích, C đứng cách T và Giao khoảng 2m nhìn thấy việc T và Giao chém H, thấy H bị thương chảy máu nên Thân, G không đánh nữa và cùng C lên xe bỏ đi. Hơn đi bộ ra đường gọi điện nhờ người quen đưa đến Trạm y tế xã Đ cấp cứu. Do vết thương nặng Hơn được chuyển đến Bệnh viện chấn thương chỉnh hình thành phố H tiếp tục điều trị.

Ngày 03/7/2023, K Văn B1 và Lê Xuân H4 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi của những người trong nhóm của Lê Văn T đã dùng dao chém B1 và H4 gây thương tích.

Ngày 11/7/2023, Lê Văn T có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi của K Văn B1 đã dùng dao chém Thân gây thương tích.

Ngày 29/12/2023, Lê Văn T, K Văn B1 và Lê Xuân H4 đã có đơn bãi nại và rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi của B1 gây thương tích cho T; Giao gây thương tích H4; T, C, G, L1 và L gây thương tích cho B1.

* Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 401/KLTTCT-TTPYBT ngày 27/6/2023 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của Lê Văn T như sau:

Các kết quả chính:

  • Vết thương 1/3 trên mặt sau cẳng tay phải đã được điều trị, hiện để sẹo vết thương còn đóng vảy nâu kích thước (3,3x0,5)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.
  • Chấn thương vùng cổ sau đã được điều trị, hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.

Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Lê Văn T tại thời điểm giám định là 2%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

  • Kết luận khác: Vết thương cẳng tay phải do vật sắc gây ra; Vết thương cẳng tay phải có chiều hướng lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.

* Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 403/KLTTCT-TTPYBT ngày 27/6/2023 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của K Văn B1 như sau:

Các kết quả chính:

5

  • Vết thương phần mềm vùng hông lưng trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước (2,5x0,7)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.
  • Đa chấn thương đỉnh đầu trái, vùng lưng trái, cẳng tay phải đã được điều trị hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.

Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông K Văn B1 tại thời điểm giám định là 2%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

  • Kết luận khác: Vết thương do vật sắc gây ra; Vết thương có chiều hướng lực tác động từ trái sang phải.

* Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 404/KLTTCT-TTPYBT ngày 27/6/2023 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của Lê Xuân H4 như sau:

Các kết quả chính:

  • Vết thương bờ trên cơ mông lớn bên trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước (3x0,9)cm, còn đóng ít vảy nâu. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.

Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Lê Xuân H4 tại thời điểm giám định là 2%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

  • Kết luận khác: Vết thương do vật sắc gây ra; Vết thương có chiều hướng lực tác động từ sau ra trước.

* Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 406/KLTTCT-TTPYBT ngày 03/7/2023 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của Nguyễn Thế H như sau:

Các kết quả chính:

  • Vết thương - chấn thương mặt sau ngoài khuỷu tay trái gãy lồi cầu ngoài xương cánh tay trái đã được phẫu thuật điều trị, hiện ổn định, để lại sẹo vết mổ trùng với sẹo vết thương kích thước (8,5x0,5)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 21% + 2%.

Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Thế H tại thời điểm giám định là 23%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

  • Kết luận khác: Vết thương - chấn thương do vật sắc gây ra; Vết thương - chấn thương có chiều hướng lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.

6

* Vật chứng thu giữ và xử lý:

  • 01 cây dao dài 45cm, cán bằng gỗ dài 13cm, đường kính 03cm, lưỡi bằng kim loại dài 32cm, sắc bén, mũi nhọn, nơi rộng nhất là 5cm;
  • 01 cây tua vít dài 35cm, cán bằng nhựa cứng màu vàng đen dài 11cm, đường kính 3cm, thân làm bằng kim loại dài 24cm, đường kính 0,5cm;
  • 01 cây dao loại dao rọc giấy dài 22cm, cán bằng nhựa cứng màu xanh, dài 15cm, rộng 2,5cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, sắc bén, mũi nhọn, lưỡi dài 7cm, rộng 2cm, bám dính tạp chất màu nâu;
  • 01 cây rựa dài 80cm, cán bằng tre dài 53cm, đường kính 3cm, lưỡi bằng kim loại dài 27cm, sắc bén, nơi rộng nhất là 5cm, phần cán và phần lưỡi nối với nhau bởi 01 khoen kim loại dài 13cm;
  • 01 cây rựa dài 76cm, cán bằng gỗ dài 48cm, đường kính 03cm, có khoen kim loại dài 13cm ốp quanh cán; lưỡi bằng kim loại dài 28cm, nơi rộng nhất là 05cm, sắc bén, mũi bằng;
  • 01 cây dao dài 43,5cm, cán bằng gỗ dài 11cm, đường kính 03cm; lưỡi bằng kim loại dài 32,5cm, nơi rộng nhất là 4,5cm, sắc bén, mũi bằng, là những vật chứng của vụ án. Toàn bộ số vật chứng trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện chuyển từ Cơ quan CSĐT - Công an huyện đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc bảo quản, chờ xử lý.

- Đối với 01 đĩa DVD có chứa 02 đoạn video clip được ghi lại hình ảnh có liên quan đến vụ án xảy ra ngày 08/6/2023 tại vườn cao su của Công ty S thuộc thôn C, xã Đ, huyện H được chuyển theo hồ sơ cùng vụ án.

Riêng, 01 đoạn cây gỗ mà Trần Ngọc C nhặt được tại khu vực xảy ra dùng để tham gia đánh nhau và 1 cây rựa mà K Văn M2 mang theo trong quá trình can ngăn (vì sợ bỏ ra có người khác lấy để đánh nhau) nên mang theo, sau đó đã ném bỏ lại gần nơi xảy ra đánh nhau (theo lời khai của C và M2), hiện không thu giữ được.

* Về dân sự: Bị hại ông Nguyễn Thế H yêu cầu bồi thường các khoản sau:

  • Chi phí điều trị thương tích là 4.573.326đ;
  • Tiền thuê xe đi điều trị là 18.500.000đ;
  • Tiền thuê phòng ở trong thời gian điều trị vật lý trị liệu ngoại trú tại Bệnh viện N2 ở huyện Đ trong thời gian 39 ngày, mỗi ngày hết 250.000đ, tổng là (250.000đ x 39 ngày) = 9.750.000đ;
  • Tiền mất thu nhập lao động trong thời gian dưỡng bệnh trong 06 tháng là: (06 tháng x 8.000.000đ) = 48.000.000đ;
  • Tiền bồi dưỡng khi điều trị thương tích là 18.000.000đ;
  • Tiền mất sức do giảm sút lao động (hiện tại tay chưa được bình thường): (06 tháng x 4.000.000đ) = 24.000.000đ;

7

  • Tiền công người nuôi bệnh (vợ của H) phải chăm sóc Hơn hết 45 ngày tại nhà (45 ngày x 250.000đ) = 11.250.000đ;
  • Tiền mất thu nhập lao động của người chăm sóc Hơn khi điều trị tại Bệnh viện 16 ngày, người chăm sóc Hơn là anh Đ (16 ngày x 400.000đ) = 6.400.000đ.
  • Tiền bồi thường tổn thất tinh thần là: 45.000.000đ;
  • Tiền chi phí sau này phẫu thuật lấy đinh vít là 30.000.000đ.

Tổng số tiền yêu cầu bồi thường là 215.473.326 đồng. Đến nay Lê Văn T đã bồi thường số tiền 70.000.000đ và K Văn G bồi thường 5.000.000đ, Trần Ngọc C bồi thường 2.000.000đ.

Đối với Lê Văn T, K Văn G và K Văn L1 mỗi người đã bồi thường cho K Văn B1 số tiền 500.000đ; K Văn G đã bồi thường cho Lê Xuân H4 số tiền 500.000đ. Sau khi nhận được các số tiền trên, đến nay B1 và H4 không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn bãi nại, rút yêu cầu khởi tố và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho T, G, C, L1 và L. Riêng, Lê Văn T bị thương tích nhẹ nên không yêu cầu bồi thường gì và cũng có đơn bãi nại, rút yêu cầu khởi tố và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho B1.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2024/HS-ST ngày 22 tháng 3 năm 2024

của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã quyết định:

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo Lê Văn T);

Đ4 đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo K Văn G và Trần Ngọc C);

Điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 590, Điều 357 Bộ luật Dân sự; Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn T (tên gọi khác: X1), K Văn G, Trần Ngọc C đều phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Lê Văn T (tên gọi khác: X1) 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/3/2024); K Văn G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/3/2024); Trần Ngọc C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/3/2024).

8

Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo Lê Văn T, K Văn G, Trần Ngọc C phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại Nguyễn Thế H với tổng số tiền là 110.803.526đồng. Được chia phần cụ thể như sau:

  • Bị cáo Lê Văn T phải bồi thường 74.803.526 đồng, được khấu trừ số tiền 70.000.000 đồng đã bồi thường, còn lại số tiền 4.803.526 đồng bị cáo phải tiếp tục bồi thường.
  • Bị cáo K Văn G phải bồi thường 18.000.000 đồng, được khấu trừ số tiền 5.000.000 đồng đã bồi thường, còn lại số tiền 13.000.000 đồng bị cáo phải tiếp tục bồi thường.
  • Bị cáo Trần Ngọc C phải bồi thường 18.000.000 đồng, được khấu trừ số tiền 2.000.000 đồng đã bồi thường, còn lại số tiền 16.000.000 đồng bị cáo phải tiếp tục bồi thường.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  • Dành quyền khởi kiện cho bị hại Nguyễn Thế H về yêu cầu bồi thường chi phí phẫu thuật lấy đinh vít bằng một vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự.

Tiếp tục tạm giữ tổng số tiền 77.000.000 đồng theo Ủy nhiệm chi số 01/CAH ngày 23/02/2024 (25.000.000đồng), biên lai thu tiền số 0004288 ngày 06/3/2024 (50.000.000đồng), biên lai thu tiền số 0004288 ngày 11/3/2024 (2.000.000đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/4/2024, bị hại Nguyễn Thế H kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để điều tra xét xử lại về các nội dung: Tòa án sơ thẩm không áp dụng điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là không đúng, vì giữa bị hại và các bị cáo không có mâu thuẫn xảy ra trước đó và tại thời điểm

9

xảy ra sự việc bị hại không có mâu thuẫn với các bị cáo; cho các bị cáo hưởng án treo là không tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, không đúng pháp luật; không chấp nhận hết các khoản về bồi thường thiệt hại là không đúng pháp luật; bỏ lọt tội phạm đối với Huỳnh Văn H5 (Ốc) và K Văn M2 (Mỹ).

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như trên.

Các bị cáo Lê Văn T, K Văn G và Trần Ngọc C khai giữa các bị cáo và bị hại Nguyễn Thế H trước khi xảy ra mâu thuẫn và tại thời điểm xảy ra mâu thuẫn là không có mâu thuẫn gì, các bị cáo chỉ nghi ngờ H là người chỉ đạo B1 đánh T nên Thân, C và G bao vây Hơn, để thực hiện các hành vi Cảnh dùng tay đánh vào vùng đầu của H một đến hai cái, T dùng rựa chém một nhát vào phần cánh tay trái của H gây thương tích, G cũng dùng rựa chém một nhát vào vùng đùi của H nhưng không trúng, không gây thương tích. Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giữ nguyên mức xử phạt của Tòa án cấp sơ thẩm.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Về tội danh: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, phúc thẩm các bị cáo Lê Văn T, K Văn G và Trần Ngọc C đều thừa nhận thương tích 23% của bị hại Nguyễn Thế H là do các bị cáo dùng rựa là hung khí nguy hiểm gây ra. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai nhân chứng, bị hại và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự nên cấp sơ thẩm truy tố và xét xử các bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.

Về hình phạt: Các bị cáo bị truy tố và xét xử theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt từ 2 năm đến 6 năm tù. Khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đánh giá đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn; xem xét vai trò của từng bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng. Riêng bị cáo K Văn G và Trần Ngọc C tham gia với vai trò giúp sức nên được áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự nên mức án phân hóa xử phạt bị cáo Lê Văn T 2 năm tù, bị cáo K Văn G 01 năm 06 tháng tù, bị cáo Trần Ngọc C 01 năm 03 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt các bị cáo trên cho hưởng án treo là không phù hợp và không tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra.

Về kháng cáo cho rằng, bỏ lọt người phạm tội đối với K V (Mỹ) và Huỳnh Văn H5 (Ốc): Nhận thấy theo tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện K Văn M2 và Huỳnh Văn H5 là những người có mặt tại hiện trường cũng như ôm đẩy Hơn vào phía trong vườn cao su nhưng việc ôm đẩy chỉ nhằm mục đích can ngăn không cho Lê Văn T, K Văn G, Trần Ngọc C gây thương tích cho

10

Nguyễn Thế H, chứ không nhằm mục đích đánh nhau. Mặt khác, M2 và H5 cũng không có hành vi giúp sức nào khác cho T, G và C đánh Nguyễn Thế H nên không có căn cứ lọt người phạm tội để hủy án sơ thẩm.

Về kháng cáo đề nghị xử phạt nghiêm, không cho các bị cáo hưởng án treo: Theo các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm thể hiện giữa bị hại và các bị cáo không có mâu thuẫn; mà chỉ vì cho rằng H là người chỉ đạo B1 đánh T nên các bị cáo K Văn G và Trần Ngọc C đã bao vây, ngăn cản không cho Nguyễn Thế H bỏ đi để cho T dùng rựa là hung khí nguy hiểm chém Hơn gây thương tích 23%, là thuộc tình tiết định khung tăng nặng “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ” quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, nhưng cấp sơ thẩm lại nhận định cho rằng do có mâu thuẫn trước đó về việc quản lý, kiểm soát vườn cao su để không truy tố, xét xử các bị cáo tình tiết định khung tăng nặng “có tính chất côn đồ” tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là không chính xác dẫn tới việc áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo hưởng án treo là không phù hợp và không đủ sức răn đe giáo dục đối với các bị cáo.

Về dân sự Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận số tiền 110.803.526 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Từ những nhận định trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm a, d khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị hại, sửa án sơ thẩm áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự và không áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự giữ nguyên mức án và chuyển sang hình phạt tù giam đối với các bị cáo.

- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo T: Không có căn cứ cho rằng bỏ lọt người phạm tội đối với K Văn M2 và Huỳnh Văn H5, vì M2 và H5 ôm đẩy Hơn chỉ nhằm mục đích can ngăn, chứ không nhằm mục đích đánh nhau và không có hành vi giúp sức cho các bị cáo; Giữa bị hại và các bị cáo có mâu thuẫn từ trước đó nên mới xảy ra mâu thuẫn như nội dung vụ án đã đề cập nên không đồng ý áp dụng điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự như Kiểm sát viên đề nghị; bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị áp dụng Điều 54 cho bị cáo T; về bồi thường thiệt hại đã xem xét như tòa sơ thẩm là phù hợp; đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, Luật sư bào chữa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị hại Nguyễn Thế H nộp trong hạn luật định, đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo không kháng cáo nhưng có bồi thường cho bị hại, cụ thể Lê Văn T bồi thường 5.803.526 đồng (trong đó tiền bồi thường 4.803.526đ, tiền án phí 500.000đ, theo Biên lai thu tiền số 0004297 ngày 08/4/2024); K Văn G bồi thường 13.850.000 đồng (trong đó tiền bồi thường

11

13.000.000đ, tiền án phí 850.000đ, theo Biên lai thu tiền số 0004298 ngày 08/4/2024) và Trần Ngọc C bồi thường 16.000.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số 0004299 ngày 08/4/2024 và Biên lai thu tiền số 0004303 ngày 09/4/2024 đối với số tiền 1.000.000đ để đóng án phí) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc.

[3] Xét kháng cáo của bị hại, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm (thể hiện tại các bút lục 214, 215, 217, 196, 197, 200, 177, 178, 181, 437, 436, 435, 434, 433, 364...) và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Lê Văn T, K Văn G và Trần Ngọc C đều khai thừa nhận giữa các bị cáo và bị hại trước khi xảy ra mâu thuẫn và tại thời điểm xảy ra mâu thuẫn là không có mâu thuẫn, mà chỉ vì cho rằng H là người chỉ đạo B1 đánh T nên các bị cáo K Văn G và Trần Ngọc C đã bao vây, ngăn cản không cho Nguyễn Thế H đi để C dùng tay đánh vào vùng đầu của H; G dùng rựa chém một nhát vào vùng đùi của H nhưng không gây thương tích; T dùng rựa là hung khí nguy hiểm chém một nhát vào phần cánh tay trái của H gây thương tích 23%, là thuộc tình tiết định khung tăng nặng “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ” (đối với bị cáo Lê Văn T và K Văn G), quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

[3.2] Xét thấy, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng, bị hại và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.

[3.3] Về hình phạt các bị cáo bị truy tố và xét xử theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 2 năm tù đến 6 năm tù. Xét thấy, khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm nhận định đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn. Trong đó, bị cáo T là người trực tiếp gây thương tích cho bị hại nên giữ vai trò thực hành tích cực nhất, còn bị cáo K Văn G và Trần Ngọc C tuy không có sự bàn bạc trước nhưng khi thấy T bị B1 đánh liền nghĩ H là người cầm đầu, chỉ đạo B1 đánh T nên bị cáo G đã bao vây, ngăn cản và dùng rựa chém vào đùi bị hại nhưng không gây thương tích; bị cáo C bao vây, ngăn cản và dùng tay đánh bị hại; các bị cáo đã bao vây, ngăn cản không cho H đi để T chém Hơn là giúp sức, tạo điều kiện để T chém Hơn nên Thân là người giữ vai trò chính, tiếp đến là Giao, sau cùng là C nên các bị cáo phải chịu chung hậu quả do bị cáo T gây ra.

[3.4] Ngoài ra, khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã xem xét các bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực bồi thường cho bị hại. Bị cáo K Văn G có cha ruột, bị cáo Lê Văn T có cha vợ là người có công với cách mạng. Bị cáo Trần Ngọc C có cha, ông ngoại và chú ruột tham gia cách mạng. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, bị cáo K Văn G

12

và Trần Ngọc C là người dân tộc thiểu số trình độ hiểu biết bị hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà các bị cáo được hưởng theo quy định.

[3.5] Các bị cáo K Văn G và Trần Ngọc C tham gia với vai trò giúp sức, không trực tiếp gây thương tích cho bị hại và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự. Sau khi cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Văn T 2 năm tù, bị cáo K Văn G 01 năm 06 tháng tù và bị cáo Trần Ngọc C 01 năm 03 tháng tù là phù hợp.

[3.6] Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định do có mâu thuẫn trước đó về việc quản lý, kiểm soát vườn cao su để không truy tố, xét xử bị cáo Lê Văn T và K Văn G tình tiết định khung tăng nặng “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là không chính xác, dẫn đến áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt cho bị cáo Lê Văn T và K Văn Giao hưởng án treo là không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điểu 3 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo (Xác thực văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao) và không đủ sức để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[3.7] Riêng đối với bị cáo Trần Ngọc C phạm tội lần đầu, là người giúp sức, có vai trò không đáng kể, không trực tiếp gây thương tích cho bị hại, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi ở ổn định nên đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 và Điều 65 Bộ luật hình sự, không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao cho chính quyền địa phương quản lý, giám sát, giáo dục là đủ răn đe và phòng ngừa tội phạm chung như tòa án sơ thẩm nhận định là phù hợp.

[3.8] Đối với K Văn M2 (Mỹ) và Huỳnh Văn H5 (Ốc), xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện K Văn M2 và Huỳnh Văn H5 là những người có mặt tại hiện trường và có hành vi ôm đẩy Hơn vào phía trong vườn cao su nhưng xác định việc ôm đẩy chỉ nhằm mục đích can ngăn không cho Lê Văn T, K Văn G và Trần Ngọc C gây thương tích cho bị hại, chứ không nhằm mục đích đánh nhau. Mặt khác, M2 và H5 cũng không có hành vi giúp sức nào khác cho Lê Văn T, K văn Giao và Trần Ngọc C đánh bị hại nên không có căn cứ lọt người phạm tội để hủy án sơ thẩm.

[3.9] Về dân sự: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do bị hại cung cấp Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc các bị cáo Lê Văn T, K Văn G và Trần Ngọc C phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại Nguyễn Thế H với tổng số tiền là 110.803.526 đồng là có căn cứ theo quy định tại Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 590 và Điều 357 Bộ luật Dân sự. Bị hại kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới nên không có căn cứ để chấp nhận.

[4] Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo có bồi thường cho bị hại số tiền còn lại theo như bản án sơ thẩm đã tuyên, cụ thể: Lê Văn T bồi thường 4.803.526 đồng; K Văn G bồi thường 13.000.000 đồng và Trần Ngọc C bồi thường

13

16.000.000 đồng. Tổng cộng 33.803.526 đồng, theo Biên lai thu tiền số 0004297 ngày 08/4/2024, Biên lai thu tiền số 0004298 ngày 08/4/2024, Biên lai thu tiền số 0004299 ngày 08/4/2024 và Biên lai thu tiền số 0004303 ngày 09/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc.

Tiếp tục tạm giữ tổng số tiền 77.000.000 đồng theo Ủy nhiệm chi số 01/CAH ngày 23/02/2024 (25.000.000 đồng), biên lai thu tiền số 0004288 ngày 06/3/2024 (50.000.000 đồng), biên lai thu tiền số 0004288 ngày 11/3/2024 (2.000.000 đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc.

Như vậy, các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại toàn bộ số tiền 110.803.526 đồng như tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên. Số tiền này tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[5] Đối với yêu cầu chi phí sau này phẫu thuật lấy đinh vít Tòa án cấp sơ thẩm dành quyền khởi kiện cho bị hại bằng một vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự khi bị hại có yêu cầu là đúng pháp luật.

[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần đề nghị của Kiểm sát viên và một phần đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo T, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a, d khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị hại, sửa án sơ thẩm áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự và không áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Văn T và bị cáo K Văn G.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm: Các bị cáo đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo bản án sơ thẩm đã tuyên, cụ thể: Bị cáo Lê Văn T đã nộp 500.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số 0004297 ngày 08/4/2024); bị cáo K Văn G đã nộp 850.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số 0004298 ngày 08/4/2024) và bị cáo Trần Ngọc C đã nộp 1.000.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số 0004303 ngày 09/4/2024). Do đó, tuyên tiếp tục tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15, điểm e khoản 2 Điều 23 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị hại Nguyễn Thế H được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm đối với phần yêu cầu kháng cáo về dân sự không được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận.

[9] Bản án sơ thẩm tuyên Người bào chữa trong vụ án này có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là chưa phù hợp với quy định tại Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự nên Tòa án cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cho phù hợp là Người bào chữa không có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm.

[10] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

14

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1, điểm a, d khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị hại Nguyễn Thế H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2024/HS-ST ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

[2] Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T (tên gọi khác: X1) phạm tội “Cố ý gây thương tích".

Xử phạt: Lê Văn T (tên gọi khác: X1) 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án.

[3] Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo K Văn G phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: K Văn G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án.

[4] Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Trần Ngọc C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/3/2024).

Giao bị cáo Trần Ngọc C cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 590 Bộ luật Dân sự.

  • Buộc các bị cáo Lê Văn T, K Văn G và Trần Ngọc C phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại Nguyễn Thế H tổng số tiền là 110.803.526 đồng. Được chia phần cụ thể như sau:

15

  • Bị cáo Lê Văn T phải bồi thường 74.803.526 đồng. Bị cáo T đã bồi thường số tiền 74.803.526 đồng (Bảy mươi tư triệu tám trăm lẻ ba nghìn năm trăm hai mươi sáu đồng).
  • Bị cáo K Văn G phải bồi thường 18.000.000đồng. Bị cáo G đã bồi thường 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).
  • Bị cáo Trần Ngọc C phải bồi thường 18.000.000đồng, bị cáo C đã bồi thường 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).

Tiếp tục tạm giữ tổng số tiền 110.803.526 đồng theo Ủy nhiệm chi số 01/CAH ngày 23/02/2024 (25.000.000đồng), Biên lai thu tiền số 0004288 ngày 06/3/2024(50.000.000đồng), Biên lai thu tiền số 0004288 ngày 11/3/2024 (2.000.000đồng); Biên lai thu tiền số 0004297 ngày 08/4/2024 (5.303.526 đồng); Biên lai thu tiền số 0004298 ngày 08/4/2024 (13.850.000 đồng); Biên lai thu tiền số 0004299 ngày 08/4/2024 (16.000.000 đồng) và Biên lai thu tiền số 0004303 ngày 09/4/2024 (1.000.000 đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc để đảm bảo thi hành án.

[6] Dành quyền khởi kiện cho bị hại Nguyễn Thế H về yêu cầu bồi thường chi phí phẫu thuật lấy đinh vít bằng một vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự.

[7] Về án phí hình sự và dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo T đã nộp số tiền 500.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số 0004297 ngày 08/4/2024 (5.303.526 đồng).

Bị cáo K Văn G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 650.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo G đã nộp số tiền 850.000 đồng (Biên lai thu tiền số 0004298 ngày 08/4/2024 (13.850.000 đồng);

Bị cáo Trần Ngọc C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 650.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo C đã nộp số tiền 1.000.000 đồng Biên lai thu tiền số 0004303 ngày 09/4/2024 (1.000.000 đồng).

Tiếp tục tạm giữ tổng số tiền 2.350.000 đồng các bị cáo đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004297 ngày 08/4/2024 (5.303.526 đồng), Biên lai thu tiền số 0004298 ngày 08/4/2024 (13.850.000 đồng) và Biên lai thu tiền số 0004303 ngày 09/4/2024 (1.000.000 đồng) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc để đảm bảo thi hành án.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15, điểm e khoản 2 Điều 23 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị hại Nguyễn Thế H được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm đối với phần yêu cầu kháng cáo về dân sự không được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận.

16

[9] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2024/HS-ST ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[10] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (05/9/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TA, VKS, CA, THA huyện HTB;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Phòng PV06 - Công an tỉnh Bình Thuận;
  • - Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP, Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Phong Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS-PT ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 84/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T, K Văn G, Trần Ngọc C phạm tội "Cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger