TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án: 84/2024/DS-PT
Ngày: 05-6 – 2024
V/v “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất
và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Ngân.
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thọ
Ông Nguyễn Hồng Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Kiều Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Dương Thanh Giềng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 115/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023, về “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 27/2023/DS - ST ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 12/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Nguyễn Thị B
- Bà Hồ Xuân H
- Bà Hồ Thị Thanh N
- Ông Hồ Minh Đ
Cùng địa chỉ: Ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện hợp pháp (đại diện theo ủy quyền) của các nguyên đơn: Ông Châu Hòa V, sinh năm 1972
Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn:
- Ông Mã Chánh L
- Bà Nguyễn Thị B1
Cùng địa chỉ: Ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện hợp pháp (đại diện theo ủy quyền) của ông Mã Chánh L: Bà Mã Thanh H1, sinh năm 1983
Địa chỉ: Ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: ông Nguyễn Phúc D – Văn phòng luật sư Nguyễn T – HG thuộc đoàn luật sư tỉnh Hậu Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị Thanh N1
Địa chỉ: Ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện hợp pháp (đại diện theo ủy quyền): Ông Châu Hòa V, sinh năm 1972.
Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người kháng cáo ông Mã Chánh L, bà Nguyễn Thị B1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn trình bày: Vào năm 2004, ông Hồ Thanh N2 có cho ông Mã Chánh L và bà Nguyễn Thị B1 mượn con mương ngang 05m, dài 29m để vợ chồng ông L, bà B1 mở rộng ao nuôi cá. Hai bên thỏa thuận khi nào nguyên đơn cần thì bị đơn sẽ trả lại, việc thỏa thuận này không có lập thành văn bản vì hai bên bà B1 và bà B là chị em ruột. Trong quá trình sử dụng mương, ông L, bà B1 có lắp mương, xây dựng tường rào, nhà bếp, gia đình ông N2 có ngăn cản nhưng ông L, bà B1 cam kết sẽ tháo dỡ và trả đất cho gia đình ông N2 cần sử dụng. Tháng 4/2016, gia đình ông N2 có nhu cầu sử dụng đất nên yêu cầu ông L, bà B1 trả đất nhưng phía ông L không đồng ý nên các thành viên trong hộ ông N2 khởi kiện, yêu cầu ông L, bà B1 trả lại phần đất có diện tích 138m² theo mảnh trích đo địa chính ngày 06/4/2018. Phần đất tranh chấp, hộ ông N2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 15/10/1996, thuộc thửa 163, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Năm 2020 ông Hồ Thanh N2 chết, những người thừa kế của ông N2 gồm bà Nguyễn Thị B, bà Hồ Xuân H, bà Hồ Thị Thanh N, ông Hồ Minh Đ tiếp tục khởi kiện yêu cầu ông Mã Chánh L và bà Nguyễn Thị B1 trả lại phần đất có diện tích138m², thuộc thửa 163, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Bị đơn trình bày: giữa đất gia đình nguyên đơn và bị đơn có một con mương chung, ngang khoảng 6m, mỗi bên sở hữu một nửa. Năm 2000, bị đơn có thỏa thuận mua nửa con mương và mua thêm 1m đất bờ của nguyên đơn, chiều dài 28m, tổng cộng diện tích là 112 m². Giá mua bán là 02 chỉ vàng 24k và 1,6 triệu đồng. Do là chị em nên hai bên không làm giấy tờ gì, chỉ giao đất, giao tiền vàng là xong. Qúa trình sử dụng, năm 2001 phía bị đơn có xây dựng tường ranh kiên cố và ông N2 là người bên bị đơn thuê xây dựng bức tường này. Đồng thời, bị đơn đã san lấp hai đầu mương để làm công trình phụ là chuồng gà, khi xây dựng không có ai ngăn cản tranh chấp.
Nay phía nguyên đơn kiện đòi đất, phía bị đơn không đồng ý và có yêu cầu Tòa án công nhận phần đất tranh chấp là 138m² theo mảnh trích đo địa chính ngày 06/4/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C thuộc quyền sở hữu của phía bị đơn do đã nhận chuyển nhượng và canh tác trong thời gian dài.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hồ Thị Thanh N1 trình bày: Vào năm 2016 cha chị là ông Hồ Thanh N2 có tranh chấp đòi lại đất với gia đình ông Mã Chánh L, bà Nguyễn Thị B1 được Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A thụ lý, giải quyết. Đến năm 2020 thì cha chị chết nên mẹ chị và các chị em tiếp tục tranh chấp với gia đình ông L. Nay chị có yêu cầu Tòa án buộc ông Mã Chánh L và bà Nguyễn Thị B1 trả lại cho gia đình phần đất có diện tích 138 m² thuộc thửa 163, tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0001000 cấp cho hộ ông Hồ Thanh N2 vào ngày 15/10/1996, để gia đình chị sử dụng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 27/2023/DS - ST ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang đã tuyên xử như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn gồm Nguyễn Thị B, Hồ Xuân H, Hồ Thị Thanh N, Hồ Minh Đ và yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hồ Thị Thanh N1.
Buộc ông Mã Chánh L và bà Nguyễn Thị B1 phải trả cho gia đình bà Nguyễn Thị B (gồm bà Nguyễn Thị B, chị Hồ Xuân H, chị Hồ Thị Thanh N, anh Hồ Minh Đ và chị Hồ Thị Thanh N1) phần đất có diện tích 138m² thuộc thửa 163, tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0001000 cấp cho hộ ông Hồ Thanh N2 vào ngày 15/10/1996 và các tài sản gắn liền trên đất (Kèm theo Mảnh trích đo địa chính số 10/CNVPĐKĐĐ ngày 06/4/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Hậu Giang).
2. Ghi nhận sự tự nguyên của bà Nguyễn Thị B, chị Hồ Xuân H, chị Hồ Thị Thanh N, anh Hồ Minh Đ và chị Hồ Thị Thanh N1 do anh Châu Hòa V làm đại diện về việc hoàn lại cho ông Mã Chánh L, bà Nguyễn Thị B1 giá trị tài sản trên đất với số tiền 12.681.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.
Ngày 04/7/2023, ông Mã Chánh L và bà Nguyễn Thị B1 kháng cáo: Yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; yêu cầu công nhận phần đất tranh chấp cho ông L, bà B1.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự trình bày:
- Bị đơn kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không bổ sung tài liệu, chứng cứ tại cấp phúc thẩm.
- Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và thống nhất theo bản án sơ thẩm đã tuyên.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn công nhận phần đất diện tích 138m² cho bị đơn tiếp tục sử dụng vì phần đất này đã mua của ông N2 từ năm 2000 và việc mua bán có một số người làm chứng biết việc mua bán đất giữa hai bên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm: Về tố tụng, từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đã tiến hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét nội dung kháng cáo của ông Mã Chánh L, bà Nguyễn Thị B1, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Phần đất tranh chấp theo kết quả đo đạc thực tế có diện tích 138m² thuộc thửa 163, tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000100 cấp cho hộ ông Hồ Thanh N2 vào ngày 15/10/1996.
[2] Vào năm 2016, ông Hồ Thanh N2 khởi kiện ông L và bà B1 để đòi lại phần trên với lý do cho rằng phần đất cho ông L và bà B1 mượn để mở rộng ao nuôi cá. Quá trình giải quyết vụ án, đến năm 2020 ông N2 chết. Vợ và các con ông N2 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông N2 tiếp tục khởi kiện ông L, bà B1 để đòi lại phần đất tranh chấp.
Việc ông N2 và vợ cho con rằng phần đất tranh chấp cho ông L, bà B1 mượn. Tuy nhiên, ông L, bà B1 không thừa nhận mà cho rằng phần đất tranh chấp mua của gia đình ông N2 vào năm 2000 với giá là 02 chỉ vàng 24k và 1.600.000 đồng. Nhưng không ai đưa ra được chứng cứ chứng minh.
Xét quá trình sử dụng đất tuy ông L, bà B1 có xây dựng tường rào kiên cố, phía nguyên đơn không thể hiện việc ngăn cản. Tuy nhiên, chưa đủ cơ sở cho rằng phần đất ông L, bà B1 mua của nguyên đơn. Bởi lẽ ông L, bà B1 không cung cấp được giấy tờ mua bán; cũng như giấy tờ có giao nhận tiền, vàng với ông N2.
Theo lời khai của những người làm chứng như ông Nguyễn Văn K, ông Trần Văn N3 và ông Võ Ngọc T1 thì xác định phần đất ông L, bà B1 mua của N2. Tuy nhiên, lời khai của người làm chứng phải phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mới có căn cứ chấp nhận.
Tại biên bản hòa giải tranh chấp ngày 28/4/2016 của Ủy ban nhân dân thị trấn B (bút lục 13-14) thể hiện, phía ông N2 đồng ý chuyển nhượng phần đất tranh chấp từ hàng rào ra đến lộ cho ông L, bà B1 với số tiền là 20.000.000 đồng thì phía ông L đồng ý và hẹn đến ngày 28/8/2016 sẽ giao đủ tiền cho ông N2. Tuy nhiên, do phía ông L không giao tiền nên việc chuyển nhượng không thể thực hiện và các bên tiếp tục tranh chấp cho đến nay.
Mặt khác, phần đất tranh chấp qua xem xét, thẩm định tại chỗ thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000100 cấp cho hộ ông Hồ Thanh N2 vào ngày 15/10/1996.
Như vậy, việc bị đơn cho rằng phần đất tranh chấp mua của nguyên đơn và đã giao tiền, vàng là không có cơ sở. Do đó cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.
[3] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Thanh N1 đang ở nước ngoài, vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lần đầu vào ngày 06/12/2017, đồng thời Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã đưa chị Hồ Thị Thanh N1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Theo Công văn số 3695/QLXNC-P5 ngày 14/12/2020 của Cục Q xác định chị N1 xuất cảnh gần nhất là ngày 04/5/2019, tức sau thời điểm Tòa án sơ thẩm thụ lý vụ án. Như vậy, vào thời điểm Tòa án sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án chị N1 mới đi nước ngoài, thuộc trường hợp không thay đổi thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 471 Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi vụ án bị hủy để xét xử lại chị N1 đã có văn bản ủy quyền cho ông Châu Hòa V tham gia tố tụng. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Mã Chánh L và bà Nguyễn Thị B1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Mã Chánh L và bà Nguyễn Thị B1 là người cao tuổi nên được miễn nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Mã Chánh L và bà Nguyễn Thị B1.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Áp dụng:
- - Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Các Điều 166, 167 Luật đất đai năm 2013.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn gồm Nguyễn Thị B, Hồ Xuân H, Hồ Thị Thanh N, Hồ Minh Đ và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hồ Thị Thanh N1.
Buộc ông Mã Chánh L và bà Nguyễn Thị B1 phải trả cho gia đình bà Nguyễn Thị B (gồm bà Nguyễn Thị B, chị Hồ Xuân H, chị Hồ Thị Thanh N, anh Hồ Minh Đ và chị Hồ Thị Thanh N1) phần đất có diện tích 138m² thuộc thửa 163, tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000100 cấp cho hộ ông Hồ Thanh N2 vào ngày 15/10/1996 và các tài sản gắn liền trên đất (Kèm theo Mảnh trích đo địa chính số 10/CNVPĐKĐĐ ngày 06/4/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Hậu Giang).
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị B, chị Hồ Xuân H, chị Hồ Thị Thanh N, anh Hồ Minh Đ và chị Hồ Thị Thanh N1 do anh Châu Hòa V làm đại diện về việc hoàn lại cho ông Mã Chánh L, bà Nguyễn Thị B1 giá trị tài sản trên đất với số tiền 12.681.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Mã Chánh L và bà Nguyễn Thị B1 là người cao tuổi nên được miễn nộp.
Án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền nguyên đơn phải trả cho bị đơn là 634.000 đồng. Buộc chị Hồ Xuân H, Hồ Thị Thanh N, Hồ Thị Thanh N1 và anh Hồ Minh Đ mỗi người phải nộp là 126.800 đồng. Bà Nguyễn Thị B là người cao tuổi nên được miễn nộp. Chuyển tiền tạm ứng án phí chị Hồ Xuân H, chị Hồ Thị Thanh N, Hồ Thị Thanh N1 và anh Hồ Minh Đ đã nộp theo biên lai số 0005533, 0005534, 0005535 ngày 15/9/2020 và biên lai số 0012280 ngày 07/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Chị Hồ Xuân H, chị Hồ Thị Thanh N, Hồ Thị Thanh N1 và anh Hồ Minh Đ mỗi người được nhận lại số tiền chênh lệch là 173.200 đồng.
- - Bà Nguyễn Thị B, chị Hồ Xuân H, chị Hồ Thị Thanh N, Hồ Thị Thanh N1 và anh Hồ Minh Đ được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng do ông Hồ Thanh N2 nộp theo biên lai số 0014470 ngày 06/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Mã Chánh L và bà Nguyễn Thị B1 là người cao tuổi nên được miễn nộp. Ông Mã Chánh L và bà Nguyễn Thị B1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0018573 ngày 04/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Về phí phí tố tụng: 1.546.000 đồng buộc ông Mã Chánh L và bà Nguyễn Thị B1 liên đới chịu, để giao trả lại cho bà Nguyễn Thị B, chị Hồ Xuân H, chị Hồ Thị Thanh N, Hồ Thị Thanh N1 và anh Hồ Minh Đ đã nộp tạm ứng trước.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 05/6/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thanh Ngân |
Bản án số 84/2024/DS-PT ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 84/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
