Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HS - ST

Ngày: 05/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ – TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lài Thị Thu Hà
  • Bà Trần Thị Thanh Vân
  • Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Phương – là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: bà Trần Duy Hoàng Thao - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Lương Ngọc Vĩnh H; sinh năm: 1998; tại: Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT: TDP S, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: TDP Văn Tâm, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Nùng; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn B và bà Nguyễn Thị Xuân Đ; tiền án: năm 2022 bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 08 tháng 27 ngày tù về tội gây rối trật tự công cộng tại bản án số 10/2022/HSST ngày 23/02/2022; tiền sự: không; nhân thân: Công an huyện L ra Quyết định cảnh cáo số 31 ngày 02/6/2014 về hành vi gây rối trật tự công cộng; ngày 03/8/2017 Công an thị trấn Đ, huyện L ra Quyết định xử phạt số 21/ QĐ – XPVPHC xử phạt 750.000 đồng về hành vi báo tin giả đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 95/QĐ-XPVPHC ngày 14/6/2018 của Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 2.500.000đồng về hành vi tàng trữ, cất giấu dao búa, công cụ, phương tiện nhằm mục đích gây thương tích cho người khác; bị bắt tạm giữ, tạm

giam từ ngày 06/01/2024 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Phùng Nguyễn Anh K, sinh năm: 2001. Địa chỉ: TDP H, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 05/01/2024, Lương Ngọc Vĩnh H đang ở phòng trọ thuộc TDP Văn Tâm, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thì có một người quen tên Đ1 đến chơi và nhờ H mua giúp 05 hộp pháo loại 49 viên/1hộp thì H đồng ý và gọi điện thoại cho P Nguyễn Anh K để hỏi mua 05 hộp pháo thì K nói để gọi lại sau. Sau đó K gọi điện thoại lại cho H cho biết chỉ có 02 hộp pháo với giá bán là 1.200.000đồng/hộp. Hoàng báo lại giá với Đ1 thì Đ1 đồng ý mua nên H đặt mua của K 02 hộp pháo và yêu cầu K mang tới phòng trọ của H. Sau đó H tiếp tục gọi điện thoại cho người quen có tên thường gọi là B1 để hỏi mua thêm 03 hộp pháo loại 49 viên/1hộp thì được B1 đồng ý bán với giá 1.350.000đồng/hộp. Hoàng báo lại giá với Đ1 rồi đồng ý mua, B1 yêu cầu trả tiền trước và cả hai thỏa thuận chuyển khoản số tiền 1.000.000đồng trước cho B1, số tiền còn lại sẽ thanh toán sau. Bo đọc cho H số tài khoản của mình thì H mở loa ngoài điện thoại của mình để cho Đ1 cùng nghe rồi Đ1 dùng điện thoại của Đ1 để chuyển tiền mua pháo 1.000.000 đồng qua tài khoản cho B1 rồi H yêu cầu B1 giao pháo về phòng trọ của H. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, P Nguyễn Anh K đi xe mô tô đến phòng trọ của H giao cho H một túi nilon màu đen bên trong có 02 hộp pháo; do chưa có tiền nên H hẹn trả tiền cho K sau thì K đồng ý rồi đi về. Sau đó H và Đ1 ra phía trước phòng trọ để đợi B1 đến giao pháo. Một lúc sau, B1 đi xe mô tô đến và cầm theo một túi vải màu hồng bên trong có ba hộp pháo giao cho H và được H hẹn B1 sẽ trả nốt số tiền còn lại sau thì B1 đồng ý và đi về.

Sau khi có pháo thì Đ1 rủ H mang theo pháo đi cùng Đ1 đến xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng để lấy số tiền còn lại thì H đồng ý. Lúc này Đ1 điều khiển xe đi trước, còn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki biển kiểm soát 68S1- 530.86 của H mang theo một túi nilon màu đen bên trong có 02 hộp pháo và một túi vải màu hồng bên trong có ba hộp pháo để ở vị trí gác ba ga của xe mô tô. Khi H đi đến đoạn đường bê tông thuộc thôn B, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thì bị lực lượng Công an ra hiệu dừng xe kiểm tra phát hiện phia trước gác ba ga xe của H có 05 hộp pháo nên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật.

Vật chứng và tài sản thu giữ gồm: 01 túi vải màu hồng bên trong có 03 hộp giấy nhiều màu sắc trên hộp có ghi chữ nước ngoài; 01 túi nilon màu đen bên

trong có 02 hộp giấy nhiều màu sắc trên hộp có ghi chữ nước ngoài; 01 điện thoại di động nokia màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki biển kiểm soát 68S1- 530.86 màu trắng hồng.

Tại bản kết luận giám định số 79/KL-KTHS ngày 12/01/2024 Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: toàn bộ tang vật chứa trong túi vải màu hồng và túi nilon màu đen tổng cộng 05 khối hộp (trong đó 02 hộp KS4-4911H; 02 hộp KS4-4912; 01 hộp A8419-A) gửi giám định đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo, khi đốt gây tiếng nổ). Tổng khối lượng là 7,7kg, trong đó 02 khối KS4-4911H trong túi nilon có khối lượng 3,4kg; 02 khối KS4-4912 và 01 khối A8419-A đựng trong túi vải màu hồng có khối lượng là 4,3kg.

Tại bản cáo trạng số 86/CT-VKS ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Lương Ngọc Vĩnh H về tội: “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lương Ngọc Vĩnh H về tội: “Tàng trữ hàng cấm”; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo H từ 12 đến 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy 05 khối hộp (trong đó 02 hộp KS4-4911H; 02 hộp KS4-4912; 01 hộp A8419-A); Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nokia màu đen; đồng thời tiếp tục giao cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng điều tra làm rõ nguồn gốc 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki biển kiểm soát 68S1- 530.86 màu trắng hồng. Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo xác định quá trình điều tra bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,

các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo Lương Ngọc Vĩnh H đã khai nhận: vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 05/01/2024, tại đoạn đường bê tông thuộc thôn B, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 05 hộp pháo nổ thì bị cơ quan Công an huyện L phát hiện bắt quả tang. Theo kết luận giám định của phòng K1 Công an tỉnh L kết luận 05 khối hộp gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ, có khối lượng là 7,7 kg.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lương Ngọc Vĩnh H phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý, sử dụng pháo, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Xuất phát từ đặc tính của pháo nổ là vật liệu nổ nguy hiểm có thể gây ra nhiều tác hại, không thể lường trước được, hậu quả nặng nề do pháo gây ra. Chính vì vậy, Nhà nước có quy định cụ thể về quản lý, sử dụng pháo. Bị cáo ý thức được pháo nổ là loại hàng hóa Nhà nước ta cấm sử dụng, cấm kinh doanh nhưng bị cáo vẫn mua và tàng trữ là hành vi nguy hiểm, có thể gây ra những tác hại nặng nề cho xã hội để lại không ít đau thương cho người sử dụng bởi những tổn thương do pháo gây ra là rất phức tạp. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét thấy bị cáo có nhân thân không tốt cụ thể năm 2017 bị Công an thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng xử phạt hành chính về hành vi báo tin giả đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; năm 2018 tiếp tục bị Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ, cất giấu dao búa, công cụ, phương tiện nhằm mục đích gây thương tích cho người khác. Đến năm 2022 bị cáo lại tiếp tục bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 08 tháng 27 ngày tù về tội gây rối trật tự công cộng, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích thì lại phạm tội do lỗi cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai

báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự.

[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo, rèn luyện, biết tuân thủ pháp luật. Do đó, cần chấp nhận một phần quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tại phiên tòa.

Đối với Phùng Nguyễn Anh K có hành vi mua bán 02 hộp pháo nổ có tổng khối lượng là 3,4kg, bản thân Khoa qua tra cứu nhân thân chưa có tiền án, tiền sự trong lĩnh vực hàng cấm, do đó hành vi của K chưa đủ yếu tố cấu thành tội buôn bán hàng cấm quy định tại Điều 190 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên hành vi này đã vi phạm quy định tại điểm c khoản 5 Điều 8 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L chuyển hồ sơ đến UBND huyện L, tỉnh Lâm Đồng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi buôn bán pháo nổ của K. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với các đối tượng tên Đ1, B1 và Q có hành vi mua bán hàng cấm là pháo nổ tuy nhiên quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể của các đối tượng này nên tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ xử lý sau.

[6].Về xử lý vật chứng: qua xem xét các vật chứng của vụ án do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L thu giữ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với 05 khối hộp (trong đó 02 hộp KS4-4911H; 02 hộp KS4-4912; 01 hộp A8419-A) bên trong chứa pháo nổ nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01điện thoại di động N1 màu đen bị cáo sử dụng chiêc điện thoại này dùng để liên lạc mua pháo nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki biển kiểm soát 68S1- 530.86 màu trắng hồng thu giữ của bị cáo hiện chưa rõ nguồn gốc nên tiếp tục giao cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng điều tra làm rõ nguồn gốc và xử lý theo quy định của pháp luật.

[7]. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lương Ngọc Vĩnh H phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Lương Ngọc Vĩnh H 09 (chín) tháng rù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2024.

2. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Tuyên:

2.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp giấy cactong được dán niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký ghi tên “Nguyễn Đức H1”, “Nguyễn Duy N” và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “Công an tỉnh L – Phòng kỹ thuật hình sự”, bên trong có:

  • - 03 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài dán giấy nhiều màu có chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối đều chứa 47 viên pháo hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên đường kính 2,3cm cao 10cm được nối với nhau bằng sợi dây truyền từ trong thân ra. Trong đó có 01 khối có dòng chữ nộ dung A8419-A và hai khối mỗi khối có dòng chữ nội dung KS4-4912.
  • - 02 khối hình hộp chữ nhật bên ngoài dán giấy nhiều màu có chữ nước ngoài và dòng chữ KS4-4911H. Bên trong mỗi khối đều chứa 49 lỗ đồng dạng, mỗi lỗ có đường kính trong 02cm, trong các lỗ chứa các viên pháo hình trụ tròn đồng dạng gồm tổng cộng 47 viên và có sợi dây dẫn truyền từ đáy hộp ra.

2.2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu nokia màu đen được niêm phong trong phong bì màu trắng có tên, chữ ký của Võ Việt H2, Lương Ngọc Vĩnh H, Trần Duy Hoàng T và dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L.

(Tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 24/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà).

2.3. Giao cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục điều tra làm rõ nguồn gốc của xe mô tô nhãn hiệu Suzuki biển kiểm soát 68S1- 530.86 màu trắng hồng và xử lý theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/6/2024), riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS, CA huyện Lâm Hà;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thúy

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS, CA huyện Lâm Hà;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS - ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ – TỈNH LÂM ĐỒNG về tàng trữ hàng cấm

  • Số bản án: 84/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ – TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Ngọc Vĩnh H phạm tội Tàng trữ hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger