Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN


Bản án số: 84/2024/HS-ST

Ngày: 05-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng

Ông Hoàng Công Hải

Thư ký phiên toà: Bà Lê Hải Sâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thế Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2024/TLST - HS ngày tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 111/2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2024/HSST-QĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Phương Đ. Tên thường gọi khác: Không, sinh ngày 12/9/1996, tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H (Chết) và con bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1952; anh chị em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/02/2024 đến ngày 08/02/2024 thì được tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng đầu tháng 01 năm 2024, Đặng Phương Đ nảy sinh ý định mua pháo nổ để bán lại cho người khác nhằm kiếm lời nên Đ sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13, màu xanh để đăng ký tài khoản Facebook mang tên “DuyDong” rồi đăng nhập, truy cập vào hội nhóm mua bán pháo. Qua đó, Đ liên lạc với tài khoản Facebook tên “T” qua ứng dụng Messenger để hỏi mua 12 khối pháo hoa nổ giá 1.300.0000 mỗi khối. Cả hai hẹn nhau đến đường liên thôn thuộc xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An đề giao dịch. Sau đó, Đ bắt taxi đi đến điểm hẹn. Khi đến nơi, nam thanh niên dùng ứng dụng M nói với Đ: “Để tiền trước cổng nhà bên phải”, Đ để số tiền 15.600.000 đồng trong một phong bì thư bưu điện rồi đặt trước cổng nhà. Nam thanh niên nói với Đ đi bộ khoảng 200 mét để lấy pháo trong thùng cát tông màu vàng bên trái đường. Đ làm theo chỉ dẫn của nam thanh niên rồi mở thùng cattong ra xem thấy bên trong có 12 khối pháo nên Đông bê thùng cát tông lên xe taxi đưa về nhà cất dấu trong tủ đồ thuộc phòng ngủ của mình. Khoảng giữa tháng 01/2024 Đ lấy 03 khối pháo ra khu vực đường ven biển thuộc xóm F, xã D, huyện D để đốt thử. Sau khi đốt xong, Đ vứt các vỏ pháo tại bãi rác gần đó.

Khoảng cuối tháng 01/2024, Đ sử dụng tài khoản Facebook “DuyDong" truy cập vào các hội nhóm mua bán pháo và đăng bài bán pháo hoa thì có tài khoản Facebook “Thanh Nguyen” hỏi mua của Đ 10 khối pháo. Đ đồng ý bán cho người đó với giá là 1.400.000 đồng một khối. Do chỉ còn lại 09 khối pháo nên Đ dùng mạng xã hội Facebook để hỏi mua. Lần này, Đ liên hệ với người dùng Facebook có tên là “L” để hỏi mua 04 khối pháo thì người này đồng ý bán cho Đ với giá là 1.300.000 đồng mỗi khối và hẹn Đ đến khu vực cuối sông M, thuộc xã D, huyện D để lấy hàng. Sau đó, Đ đi đến điểm hẹn thì gặp một nam thanh niên lạ mặt, đưa cho người đó số tiền 5.200.000 đồng rồi người này chỉ dẫn cho Đ đến khu vực cuối bờ sông để lấy pháo. Đ đi một đoạn thì thấy một túi nilong màu đen để phải đường, bên trong có 04 khối pháo. Đ cầm túi ni lông mang về nhà cất giấu trong tủ quần áo.

Đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 02/02/2024, người dùng facebook tên “Thanh Nguyen” liên lạc lại với Đ để lấy pháo đã đặt mua trước đó thì Đ hẹn người đó đúng 20 giờ 00 phút cùng ngày, đến khu vực trước nhà nghỉ V1 thuộc xóm F, xã D, huyện D để lấy. Sau đó, Đ lấy 06 khối pháo cho vào túi ni lông màu đen và 04 khối pháo cho vào túi ni lông màu xanh rồi mang đến khu vực đối diện nhà nghỉ V1 và để ở ven đường. Đến khoảng 20 giờ 00 phút, có một nam thanh niên đi đến chỗ Đ để lấy pháo, khi cả hai đang giao dịch thì bị Tổ công tác thuộc Phòng C Công an tỉnh C kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Đặng Phương Đ, còn nam thanh niên kia bỏ chạy được, thu giữ tại ven đường gần vị trí đứng của Đ 02 túi ni lông gồm 01 túi ni lông màu đen bên trong có chứa 06 khối hình hộp chữ nhật, có đặc điểm, kích thước (15x15x10) cm giống nhau, bên ngoài được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài và 01 túi ni lông màu xanh bên trong có chứa 04 khối hình hộp chữ nhật, có đặc điểm, kích thước (15x15x10) cm giống nhau, bên ngoài được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài nghi là pháo nổ. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng, lập biên bản bắt quả tang rồi dẫn giải Đặng Phương Đ về trụ sở Công an xã D để tiếp tục điều tra, làm rõ.

Vào hồi 21 giờ 55 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Đặng Phương Đ tại xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Quá trình khám xét, thu giữ tại tủ quần áo trong phòng ngủ của Đông 03 khối hình hộp chữ nhật, có đặc điểm, kích thước (15x15x10) cm giống nhau, bên ngoài được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài nghi là pháo nổ.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định niêm phong lại ngày 03/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C xác định:

  • + 06 khối hình hộp chữ nhật, có đặc điểm, kích thước (15x15x10) cm giống nhau, bên ngoài được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài nghi là pháo nổ, thu giữ khi bắt quả tang Đặng Phương Đ có tổng khối lượng 7,9 kg (bảy phẩy chín kilôgam) (ký hiệu M3).
  • + 04 khối hình hộp chữ nhật, có đặc điểm, kích thước (15x15x10) cm giống nhau, bên ngoài được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài nghi là pháo nổ, thu giữ khi bắt quả tang Đặng Phương Đ có tổng khối lượng 5,2 kg (năm phẩy hai kilôgam) (ký hiệu từ M2).
  • + 03 khối hình hộp chữ nhật, có đặc điểm, kích thước (15x15x10) cm giống nhau, bên ngoài được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài nghi là pháo nổ thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đăng Phương Đ1 có tổng khối lượng 3,9 kg (ba phẩy chín kilôgam) (ký hiệu từ M1).

Tổng khối lượng của 13 khối hình hộp chữ nhật thu giữa khi bắt quả tang và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Phương Đ là 17 kg (mười bảy kilôgam).

Tại Kết luận giám định số 2269/KL-KTHS (Đ2-CN) ngày 06/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận:

  • -03 (ba) mẫu vật ký hiệu M1, M2, M3 gửi tới giảm định đều là pháo, đều thuộc loại pháo nổ.

Tại bản Cáo trạng số: 85/CT-VKS-DC ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố bị cáo Đặng Phương Đ về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Đặng Phương Đ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng, cam đoan sẽ không bao giờ tái phạm và đã nhận thức được tính nghiêm trọng của hành vi phạm tội.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Đặng Phương Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Phương Đ phạm tội “Buôn bán hàng cấm” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Phương Đ từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy số pháo nổ còn lại sau khi đã gửi đi giám định thu của bị cáo Đặng Phương Đ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đặng Phương Đ không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi thực hiện của mình phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với nội dung của Cáo trạng đã quy kết, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 02/02/2024, tại khu vực trước nhà nghi V, thuộc xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh C kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Đặng Phương Đ đang có hành vi buôn bán 10 (Mười) khối pháo có tổng khối lượng là 12,1 kg (Mười hai phẩy một ki lô gam) nhằm mục đích bán kiếm lời. Vào hồi 21 giờ 55 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Đăng Phương Đ1 tại xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Quá trình khám xét, thu giữ tại tủ quần áo trong phòng ngủ của Đông 03 (Ba) khối pháo có tổng khối lượng là 3,9 kg (Ba phẩy chín ki lô gam). Do đó, Đ1 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Buôn bán hàng cấm” với tổng khối lượng 17 kg (mười bảy kilôgam) pháo nổ. Như vậy, hành vi thực hiện của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Buôn bán hàng cấm", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo:

Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi thực hiện của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội lớn, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự quản lý hàng cấm trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Trong thời gian qua hoạt động buôn bán, tàng trữ, sản xuất hàng cấm là pháo nổ xẩy ra nhiều, gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình trật tự an toàn xã hội; các cơ quan chức năng đã ra sức tuyên truyền, giáo dục nhằm ngăn chặn tội phạm này. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, đủ tuổi chịu tránh nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo nhận thức rõ hành vi thực hiện của mình là vi phạm pháp luật. Vì hám lợi, bị cáo không làm chủ được bản thân nên đã thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường kỷ cương pháp luật. Vì vậy, cần phải lên một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung như ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, biết ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình có cả bố và mẹ có công với cách mạng, được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Xét thấy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần đầu, không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự công cộng, an toàn xã hội. Vì vậy, chưa cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa; đồng thời tạo điều kiện để bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đặng Phương Đ làm nghề lao động tự do, công việc làm không ổn định, thu nhập thấp, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về nội dung liên quan khác:

Đối với những người đã liên hệ với Đặng Phương Đ để mua, bán pháo nổ, do không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với hành vi đốt pháo tại khu vực đường đê biển thuộc xóm F, xã D, huyện D vào khoảng cuối tháng 01 năm 2024, theo lời khai của Đặng Phương Đ, Cơ quan điều tra Công an huyện D đã tiến hành tìm kiếm vỏ pháo sau khi nổ nhưng không tìm thấy nên chưa đủ căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính đối với Đặng Phương Đ.

[7]. Về xử lý vật chứng:

Tổng khối lượng 17 kg pháo nổ gồm 13 khối hình hộp chữ nhật, có đặc điểm giống nhau, Cơ quan điều tra đã lấy 07 khối hình hộp chữ nhật, có đặc điểm giống nhau để đi giám định hết; còn lại 06 khối hình hộp chữ nhật, có đặc điểm giống nhau đều là pháo nổ thu của Đặng Phương Đ là vật Nhà nước cấm buôn bán, tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple iphone 13, màu xanh, số imei: 3523364221553153, đã qua sử dụng thu giữ của Đặng Phương Đ, là chiếc điện thoại mà bị cáo sử dụng để liên lạc, trao đổi mua bán pháo, là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
  • - Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Phương Đ phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Phương Đ 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 05/6/2024).

Giao bị cáo Đặng Phương Đ cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo, thông báo kết quả chấp hành án của bị cáo với Ủy ban nhân dân xã (phường) khi có yêu cầu. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

  1. Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu, tiêu hủy: 06 (Sáu) khối hình hộp được bỏ lại vào 01 (Một) thùng catton màu vàng có kích thước 36x36x40cm. Thùng catton được dán kín các cạnh, tại các mép dán của thùng catton được dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký của những người có tên trong biên bản mở niêm phong và hình dấu của Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh C. (Vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng thuộc Công an huyện D, tỉnh Nghệ An theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 04/PNK ngày 08/02/2024 của Công an huyện D, tỉnh Nghệ An).
  • - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động đã qua sử dụng ghi nhãn hiệu Apple Iphone 13, màu xanh, không chứa sim vật lý, số Imei: 3523364221553153, đã qua sử dụng, thu giữ của Đặng Phương Đ. (Vật chứng hiện đang lưu tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu và phiếu nhập kho ngày 15/5/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu).
  1. Về án phí: Bị cáo Đặng Phương Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Diễn Châu;
  • - Công an huyện Diễn Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Diễn Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Vương Thanh Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự về tội buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 84/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buôn bán pháo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger