Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HS-PT

Ngày: 15-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Thông.

Ông Lê Khắc Thịnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 56/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Lê Hoàng N. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 80/2023/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Lê Hoàng N (tên gọi khác: không), sinh năm 1997, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thanh H, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1965; Vợ, con: Không; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện nay, bị cáo đang tại ngoại, có mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn bị hại không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 45 phút, ngày 21/01/2023 anh Tống Thành H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter (không rõ biển số) mượn của người bạn tên K (không rõ họ tên, địa chỉ) chạy trên Quốc lộ C, hướng C đi Hồ N chở bị cáo Lê Hoàng N và anh Võ Huy H2 đến nhà anh Lâm K1 H3 ngụ ấp B, xã A, huyện T để nhậu.

Khi đến đoạn sạt lỡ thuộc ấp B, xã A thì bị cáo N nhìn thấy ông Huỳnh Văn T đang đứng bên lề đường vừa muốn qua đường, vừa muốn dừng lại nên bị cáo N nói “Có đi qua thì đi, không đi thì dừng lại cho người ta chạy qua”. Sau đó, anh H1 tiếp tục điều khiển xe chở bị cáo N và anh H2 đến nhà anh H3 cách đó khoảng 400m. Khi đến nhà anh H3 thì anh H1, anh H2 đi vào nhà, còn bị cáo N điều khiển xe loại Exciter nêu trên quay lại chỗ ông T để giải quyết mâu thuẫn. Khi đến nơi, bị cáo N dùng tay đánh ông T nên ông T dùng tàu dừa khô đánh lại. Thấy vậy, con ông T là anh Huỳnh Tường V từ trong nhà chạy ra thì bị bị cáo N dùng chìa khóa xe có chiều dài khoảng 05-07cm đang cầm tay đâm trúng vào vùng thái dương trái của anh V.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số: 09/KLTgTHS-TTPY ngày 04/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Huỳnh Tường V, như sau:

  • + Nứt xương thái dương trái. Tỷ lệ tổn thương 08%.
  • + Máu tụ dưới màng cứng bán cầu đại não trái. Tỷ lệ tổn thương 08%.
  • + Dập xuất huyết não thái dương trái. Tỷ lệ tổn thương 05%.
  • + Vết thương phần mềm dùng thái dương trái, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương 01%.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20% tại thời điểm giám định, áp dụng phương pháp cộng lùi theo Thông tư số 22 ngày 28/8/2019 của Bộ Y; các tổn thương trên có thể do vật tày có cạnh gây ra.

  • * Về vật chứng thu giữ và xử lý gồm: Chìa khóa xe loại Exciter có chiều dài khoảng 05-07cm, sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo N đã trả cho người tên K (không rõ họ tên, địa chỉ). Cơ quan điều tra không làm việc được với K nên không thu giữ và xử lý.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Anh Huỳnh Tường V đã nhận từ bị cáo Lê Hoàng N tiền bồi thường gồm: Chi phí điều trị, chi phí đi lại, ngày công lao động với số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) nên không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo N.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 80/2023/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình đã quyết định:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt Lê Hoàng N 04 (B) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 03 tháng 01 năm 2024, bị cáo Lê Hoàng N có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Hoàng N với tội danh, điều khoản của tội danh và mức hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Xét thấy, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và mức hình phạt 04 (bốn) năm tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có cung cấp thêm xác nhận đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, đây là tính tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự nhưng cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Hoàng N giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Hoàng N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 17 giờ 45 phút, ngày 21/01/2023 giữa bị cáo và bên bị hại có mâu thuẩn và chưởi nhau trong quá trình điều khiển xe qua đoạn sạc lỡ dẫn đến đánh nhau, Lê Hoàng N dùng chìa khóa xe loại Exciter có chiều dài khoảng 05-07cm đâm trúng vào vùng thái dương trái của anh Huỳnh Tường V làm cho anh V tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 20%.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Lê Hoàng N là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bị cáo nhận thức được việc dùng chìa khóa xe là vật nhọn đâm vào cơ thể người khác sẽ gây thương tích, là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện chứng tỏ lỗi của bị cáo là lỗi cố ý và việc thực hiện tội phạm đã hoàn thành.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Hoàng N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có cung cấp thêm xác nhận đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi đây là tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo. Xét mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cáo của bị cáo Lê Hoàng N, giữ nguyên phần quyết định của án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Do kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng N không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;

  1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Hoàng N. Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
  2. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt Lê Hoàng N 04 (B) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo Lê Hoàng N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
  • - TAND huyện Thanh Bình (02 bản);
  • - VKSND huyện Thanh Bình ;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Bình ;
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Thanh Bình ;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Thanh Bình ;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT, HSVA, (Hào).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Minh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS-PT ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 84/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger