Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 84/2024/HS-ST

Ngày: 04-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Minh Tuấn;
  2. Ông Đinh Hoàng Việt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hoan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/HSST – QĐ ngày 13/6/2024 đối với các bị cáo:

1. Đặng Ngọc D (tên gọi khác: Không có), sinh ngày: 05/12/2000 tại tỉnh Cà Mau; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm G, Phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Nơi ở hiện tại: Số D T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Nhân viên; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Đặng Trọng H (sinh năm 1972) và bà Lâm Thị Minh H1 (sinh năm 1980); Hoàn cảnh gia đình: 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/11/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Duy H2 (tên gọi khác: Không có), sinh ngày: 25/9/2000 tại tỉnh Lâm Đồng; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Nơi ở hiện tại: Căn hộ A chung cư T, số C C, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Nguyễn Văn H3 (sinh năm 1975) và bà Cù Thị H4 (sinh năm 1980); Hoàn cảnh gia đình: Vợ: Nguyễn Thị Minh H5 (sinh năm 2001), có 02 con sinh năm 2020 và 2022; Tiền án: Không

- Tiền sự: Ngày 24/8/2023, bị Ủy ban nhân dân Phường D1, Quận A áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý theo Quyết định số 557/QĐ-UBND.

- Nhân thân: Ngày 06/10/2023, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 134 Bộ Luật hình sự theo quyết định khởi tố bị can số 164/QĐ-CQCSĐT-ĐTTH.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/12/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Hoàng N (tên gọi khác: Không có), sinh ngày: 05/12/1997 tại tỉnh Cà Mau; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm C, Phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Nơi ở hiện tại: Không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Hoàng P (chết) và bà Lê Thị Mỹ L (sinh năm 1957); Tiền án, tiền sự: Không

Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/03/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa

- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Ngọc D: Ông Trần Hữu T - Luật sư Công ty L1 thuộc đoàn Luật sư Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 09 giờ 20 phút ngày 27/11/2023, Đội Cảnh sát điều tra Tội phạm về ma túy Công an Q1 phối hợp với Công an Phường 14 Quận A tiến hành kiểm tra hành chính Phòng số 2, Lầu A, nhà số: 4 T, Phường A Quận A, TP ., có 04 đối tượng đang lưu trú gồm: Đặng Ngọc D, Hoàng Thị H6, H, Nguyễn Duy H2. Qua kiểm tra, Cơ quan Công an phát hiện và tạm giữ: dưới gầm bàn trang điểm có 01 (một) đĩa sứ màu trắng, bên trên đĩa có chất tinh thể không màu, 01 (một) thẻ nhựa màu xanh và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000đ cuộn tròn lại thành dạng ống; trên bàn trang điểm có 01 (một) gói nylon chứa mảnh vụn viên nén màu xám, 01 (một) gói nylon chứa mảnh vụn viên nén màu xám; trên giường ngủ có 01 bàn DJ dùng để chơi nhạc, 02 loa có ghi chữ CR-X; dưới chân gường ngủ có 01 loa Marshall, 01 đèn chiếu hình robot màu trắng; trên kệ đặt cạnh giường ngủ có 01 máy chiếu hiệu Harman/kardon, 01 loa hiệu Harman/kardon; trên bàn cạnh bếp có 01 ly sứ, 01 muỗng bằng kim loại, 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng. Đặng Ngọc D khai nhận tinh thể không màu và viên nén màu xám, là ma túy của D cất giữ để sử dụng. Công an P1, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 xử lý. (BL 117-120)

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1 trưng cầu giám định chất tinh thể không màu và viên nén màu xám thu giữ của D. Kết luận giám định số 13293/KL-KTHS ngày 04/12/2023 của Phòng K - Công an thành phố Q1:

“- Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4147g (không phẩy bốn một bốn bảy gam), loại Ketamine.

- Mảnh vụn viên nén màu xám được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2382 (không phẩy bốn một bốn bảy gam), loại MDMA” (B1 71)

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Đặng Ngọc D khai nhận: Phòng số 2, lầu 1 nhà số D T, Phường A, Quận A do bà Từ Mai T1 là chủ nhà. Từ tháng 06/2023 D thê nhà với giá 6.000.000đ/tháng để ở. Khoảng đầu tháng 10/2023 Hoàng N từ Cà Mau lên thành phố Hồ Chí Minh tìm việc, chưa có chỗ ở nên D cho N ở nhờ và không lấy tiền phòng. H2 là bạn trai của D. Vào khoảng 13 giờ ngày 26/11/2023, D và Hoàng N đang ở nhà thì Nguyễn Duy H2 đến chơi. Khoảng 19 giờ cùng ngày, D và H2 rủ nhau mua đồ về nhậu. Lúc này D có nói với N nhậu rồi có hứng sẽ lấy ma túy về chơi. N nghe nhưng không trả lời. Khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, trong lúc Nam trong nhà tắm, D và H2 rủ nhau mua ma túy về sử dụng. Sau đó, D gọi điện thoại số [...] cho người tên Đ mua 02 viên “thuốc lắc” và 02 gói ma túy “khay” với giá 5.250.000 đồng, hẹn giao trước nhà trọ của D. Khoảng 20 giờ cùng ngày, N có việc đi ra ngoài. Đến khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, Đ gọi điện thoại cho D, nhưng do bận việc, D nhờ H2 nghe điện thoại và D nói H2 cầm đôi giày để trên kệ đem xuống đưa cho Đ khi nhận ma túy. H2 cầm đôi giày đi xuống trước nhà đưa cho Đ và lấy ma túy lên trên phòng. Khi mang ma túy lên phòng, H2 lấy 01 viên ma túy “thuốc lắc” bẻ làm hai phần, H2 sử dụng một phần và đưa cho D sử dụng một phần, gói nylon chứa 01 viên thuốc lắc còn lại H2 để trên bàn trang điểm. Khoảng 15 phút sau, H2 mở gói nylon dán băng keo màu vàng bên trong có 02 gói ma túy “khay”. H2 lấy một gói ma tuý đổ ra đĩa, dùng thẻ nhựa cà nhuyễn ra thành bột rồi cùng D sử dụng. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, N nhắn tin hỏi D có sử dụng ma túy không, D trả lời có và rủ N về sử dụng ma túy chung. Khoảng 01 giờ, ngày 27/11/2023 N về nhà và lấy viên thuốc lắc H2 để trên bàn, bẻ thành hai phần, N sử dụng 1 phần; phần còn lại Nam cất vào gói nylon và để lại chỗ cũ. Khoảng 02 giờ ngày 27/11/2023, khi D và H2 đang ngồi ăn thì N dẫn một người nữ vào phòng và giới thiệu tên H6, là bạn của N rồi cả hai lên giường chơi nhạc. Sau đó, H2 lấy ly ma túy “nước nho” của H2 trong tủ lạnh ra cùng với D sử dụng; Tiếp đó, H2 cầm đĩa có ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy lên giường rồi H2, D và N cùng sử dụng. Sau đó, N cầm đĩa ma túy rủ H6 sử dụng và đưa cho H6 sử dụng ma tuý. Khi hết ma túy trên đĩa, H2 lấy gói ma túy còn lại đổ ra đĩa và cùng D, N, H6 sử dụng và nghe nhạc. Khoảng 05 giờ cùng ngày cả 04 người xuống nệm dưới sàn nhà tiếp tục sử dụng ma túy đến khoảng 09 giờ cùng ngày thì bị Công an kiểm tra phát hiện. Ngoài ra D còn khai, khoảng 01 giờ ngày 23/11/2023, D, H2, N cùng có mặt tại phòng trọ, D gọi điện thoại với người tên Đ mua 2.000.000 đồng ma túy để sử dụng. Khi Đ đến giao ma túy, D nhờ N xuống lấy ma túy đem lên phòng, do không có tiền trong tài khoản nên D nhờ N chuyển khoản cho Đ số tiền 2.000.000 đồng và đưa lại tiền mặt cho N. Sau đó D cùng N sử dụng số ma túy trên. D rủ H2 sử dụng ma túy nhưng H2 không sử dụng. Sau đó, H2 tự liên hệ mua ma túy loại “nước nho”. H2 pha ma túy vào ly rồi rủ D, N sử dụng nhưng do D và N mệt nên không ai sử dụng; H2 để ly ma túy trên vào tủ lạnh, đến ngày 27/11/2023 H2 mang ly ma túy ra sử dụng như trên. Toàn bộ số ma túy “khay” và “thuốc lắc” sử dụng là D bỏ tiền ra mua của người tên Đ, số điện thoại 082252652, tài khoản số1041956760 mở tại Ngân hàng V; dụng cụ sử dụng ma túy là của D; ma túy “nước nho” là của H2. Khi rủ N, H2 sử dụng ma túy, D không yêu cầu góp tiền. Khi N rủ và đưa ma túy cho H6 sử dụng thì D không phản đối và cũng không yêu cầu góp tiền vì H6 là bạn của N.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1 khởi tố, bắt tạm giam đối với Nguyễn Duy H2, H.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1, bị can Nguyễn Duy H2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, lời khai của bị can H2 phù hợp với lời khai của bị can D. Ma túy “nước nho” là của H2 mua vào ngày 23/12/2023 từ một người (không rõ lai lịch), sử dụng số điện thoại 0902.400.xxx với giá 2.700.000 đồng, giao cho H2 trước nhà số D T, Phường A, Quận A.

Tại Cơ quan điều tra, Hoàng N cũng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, lời khai của bị can N phù hợp với lời khai của D, H2. Sau khi N nhắn tin hỏi D có sử dụng ma túy không, được D trả lời có và rủ N về sử dụng ma túy chung thì N nhắn tin và gọi điện thoại qua mạng xã hội Messenger, rủ H6 qua phòng của N chơi nhạc DJ. H6 đồng ý. Khoảng 01 giờ, ngày 27/11/2023, N về đến phòng và nằm ngủ. Một lúc sau, Nam thức dậy lấy viên thuốc lắc để trên bàn, bẻ làm hai phần rồi N sử dụng 1 phần, phần còn lại cất vào gói nylon và để lại chỗ cũ. Khoảng 02 giờ cùng ngày H6 tới, N xuống mở cửa dẫn lên phòng và giới thiệu H6 với D, H2 là bạn của N rồi cả hai lên giường đánh nhạc. Sau đó, H2 cầm đĩa sứ có ma túy và dụng cụ sử dụng lên giường để H2, D và N cùng sử dụng. Lúc này, N rủ H6 sử dụng ma túy, cầm đĩa ma túy đưa cho H6. H6 đồng ý sử dụng ma tuý. Sau đó D, H2, N, H6 sử dụng ma túy đến khi Công an phát hiện như trên. N khai lúc đầu chỉ rủ H6 về phòng chơi nhạc nhưng khi H6 đến phòng, N mới rủ H6 sử dụng ma túy và cầm đĩa cho H6 sử dụng. Khi rủ H6 sử dụng ma túy, N không yêu cầu H6 góp tiền.

Hoàng Thị H6 khai nhận phù hợp với lời khai của D, H2, N về việc sử dụng N rủ và cầm đĩa có chứa ma túy cho H6 sử dụng ma túy tại phòng 02, lầu 1 nhà số D T, Phường A, Quận A vào ngày 27/11/2023. Hoa sử dung ma túy từ năm 2020 nhưng đây là lần đầu tiên H6 sử dụng ma túy cùng với N, D, H2.

Kết quả xác minh tài khoản số 1041956760 tại Ngân hàng V, do Chung Hải Đ1, sinh năm 1995, địa chỉ E L, Phường D, thành phố C, tỉnh Cà Mau là chủ tài khoản. Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1, Chung H khai có sử dụng số điện thoại 082252652 và tài khoản ngân hàng số 1041956760 tại Ngân hàng V nhưng không thừa nhận bán ma tuý cho D. Những lần Đ1 liên lạc, chuyển khoản nhận tiền từ Đặng Ngọc D là tiền Đăng mượn của D. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1 cho bị can D và Chung Hải Đ1 đối chất nhưng không làm rõ được mâu thuẫn; cho bị can Hoàng N nhận dạng người giao ma túy vào ngày 23/11/2023, N xác định người giao ma túy cho N không phải là Đ1; cho Nguyễn Duy H2 nhận dạng người giao ma túy cho H2 vào ngày 26/11/2023, H2 không nhận dạng được người giao ma túy có phải là Đăng không.

Kết quả xét nghiệm nước tiểu D, H2, N, H6 đều dương tính với chất ma túy.

Vật chứng vụ án:

  • 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra, số vụ 2585/2023 Q10G1, bên trong có có 0,2609g ma túy ở thể rắn, lọai Ketamine còn lại sau giám định.
  • 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra, số vụ 2585/2023 Q10G2, bên trong có có 0,1030g ma túy ở thể rắn, loại MDMA còn lại sau giám định.
  • 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, 01 ly sứ, 01 muỗm kim loại của bị can D sử dụng vào việc phạm tội.
  • 01 bàn DJ của bị can N sử dụng trong lúc sử dụng ma túy.
  • 02 loa âm thanh có ghi chữ CR-X của bị can D sử dụng trong lúc sử dụng ma túy.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím, số thuê bao: 0949272764, của bị can D sử dụng vào việc phạm tội.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím, số thuê bao: 0981009094 của bị can H2 sử dụng vào việc phạm tội.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số thuê bao: 0944377879 của bị can N sử dụng vào việc phạm tội.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số thuê bao: 0385727586 là tài sản của bị cáo D, không liên quan đến việc phạm tội.
  • 01 loa âm thanh marshall của bị can N không liên quan đến việc phạm tội.
  • 01 máy chiếu hiệu Harman/kardon, 01 loa âm thanh hiệu Harman/kardon, 01 đèn chiếu hình robot màu trắng của bị can D không liên quan đến việc phạm tội.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã có Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh của Hoàng Thị H6 không liên quan đến việc phạm tội. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1 đã trả chiếc điện thoại trên cho Hoàng Thị H6.

Tại Bản cáo trạng số 44/CTr-VKS ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố:

  • Bị cáo Đặng Ngọc D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp “Đối với 02 người trở lên”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Bị cáo Nguyễn Duy H2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp “Đối với 02 người trở lên”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Bị cáo Hoàng N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, bị hại, nêu lên tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo:

  • Áp dụng điểm i khoản 1, Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Đặng Ngọc D mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 09 (chín) năm đến 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H2 mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Hoàng N mức án từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

Luật sư Trần Hữu T bào chữa cho bị cáo Đặng Ngọc D: Luật sư đồng ý với tội danh và điều luật truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo phạm tội lần đầu; thành thật khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức về pháp luật còn hạn chế, bị cáo là lao động chính trong nhà, đang nuôi con nhỏ và điều trị bệnh trầm cảm. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 51 giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D sớm trở về nhà kiếm tiền nuôi con.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận 10 Thành phố Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Đặng Ngọc D, Nguyễn Duy H2 và Hoàng N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:

Lúc 09 giờ 20 phút ngày 27/11/2023, tại phòng số B, lầu A, nhà số: 4 T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Đặng Ngọc D, Nguyễn Duy H2, Hoàng N đã có hành vi cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Đặng Ngọc D là người bỏ tiền ra mua ma tuý, cung cấp dụng cụ, địa điểm sử dụng ma túy cho Nguyễn Duy H2, H, Hoàng Thị H6 cùng sử dụng.

Hành vi của Đặng Ngọc D đã phạm vào tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" thuộc trường hợp “đối với 02 người trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ngoài ra, khi bị bắt quả tang cơ quan Công an đã thu giữ 0,4147g ma túy loại Ketamine và 0,2382g ma túy loại MDMA của D cất giữ nhằm mục đích sử dụng nên bị cáo Đặng Ngọc D còn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo Nguyễn Duy H2 có hành vi giúp sức cho bị cáo Đặng Ngọc D đi lấy ma túy, xào, chia ma túy để sử dụng nên đồng phạm Đặng Ngọc D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hoàng N có hành vi rủ Hoàng Thị H6 đến chỗ của Đặng Ngọc D để sử dụng ma túy, nên N đồng phạm với D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội. Các bị cáo đều là những người trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, biết việc tổ chức sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý nghiêm khắc nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân, các bị cáo vẫn cố ý phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt mức án nghiêm, tương xứng với vai trò của từng bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, cải tạo giáo dục, cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Đặng Ngọc D, Nguyễn Duy H2, Hoàng N có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xét khi lượng hình xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[5]. Đối với Chung Hải Đ1 không thừa nhận việc bán ma túy cho bị cáo Đặng Ngọc D. Ngoài lời khai của D thì không có chứng cứ nào khác. Do đó chưa đủ chứng cứ để xử lý Đ1.

Đối với Hoàng Thị H6, Công an P2, Quận A đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo H2 hiện không rõ lai lịch, khi nào làm rõ được xử lý sau.

Đối với bà Lương Thị Mai T2 - chủ nhà số: 4 T, Phường A Quận A, không biết D tổ chức sử dụng và cất giấu ma túy nên không có hành vi phạm tội.

Đối với lời khai của D, N về việc sử dụng ma túy vào ngày 23/11/2023. Cơ quan điều tra không thu giữ được ma túy, không xác định được loại ma túy sử dụng và không xác định được người bán ma túy nên chưa đủ căn cứ đề xử lý.

[6] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

[6.1] Tịch thu và tiêu hủy:

  • 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra, số vụ 2585/23 Q10 G1, bên trong có có 0,2609g ma túy ở thể rắn, lọai Ketamine còn lại sau giám định, tịch thu
  • 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra, số vụ 2585/2023 Q10G2, bên trong có có 0,1030g ma túy ở thể rắn, loại MDMA còn lại sau giám định.
  • 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa, 01 ly sứ, 01 muỗm kim loại của D sử dụng vào việc phạm tội

[6.2] Tịch thu, sung nộp ngân sách nhà nước:

  • 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng.
  • 01 bàn DJ của N sử dụng trong lúc sử dụng ma túy.
  • 02 loa âm thanh có ghi chữ CR-X của D sử dụng trong lúc sử dụng ma túy.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím, số thuê bao: 0949272764, của D sử dụng vào việc phạm tội.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím, số thuê bao: 0981009094 của H2 sử dụng vào việc phạm tội.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số thuê bao: 0944377879 của N sử dụng vào việc phạm tội.

[6.3] Trả lại:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số thuê bao: 0385727586 là tài sản của bị cáo D, không liên quan đến việc phạm tội.
  • 01 loa âm thanh Marshall của bị cáo N không liên quan đến việc phạm tội.
  • 01 máy chiếu hiệu Harman/kardon, 01 loa âm thanh hiệu Harman/kardon, 01 đèn chiếu hình robot màu trắng của bị cáo D không liên quan đến việc phạm tội.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt: Đặng Ngọc D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2023.

    Xử phạt: Đặng Ngọc D 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2023.

    Tổng hợp hình phạt của bị cáo Đặng Ngọc D là 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2023.

  2. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt: Nguyễn Duy H2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2023.

    Xử phạt: Nguyễn Duy H2 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2023.

    Tổng hợp hình phạt của bị cáo Nguyễn Duy H2 là 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2023.

  3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt: Hoàng Nam 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2024.

- Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017

Tịch thu và tiêu hủy:

  • 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra, số vụ 2585/23 Q10 G1, bên trong có có 0,2609g ma túy ở thể rắn, lọai Ketamine còn lại sau giám định.
  • 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra, số vụ 2585/23 Q10 G2, bên trong có có 0,1030g ma túy ở thể rắn, loại MDMA còn lại sau giám định.
  • 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa, 01 ly sứ, 01 muỗng kim loại của D sử dụng vào việc phạm tội.

Tịch thu, sung nộp ngân sách nhà nước:

  • 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng.
  • 01 bàn DJ.
  • 02 loa âm thanh có ghi chữ CR-X.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím, số thuê bao: 0949272764.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím, số thuê bao: 0981009094.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số thuê bao: 0944377879.

Trả lại:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số thuê bao: 0385727586.
  • 01 loa âm thanh Marshall
  • 01 máy chiếu hiệu Harman/kardon, 01 loa âm thanh hiệu Harman/kardon, 01 đèn chiếu hình Robot màu trắng.

Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;

2. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM; (1)
  • - VKSND Quận 10; (2)
  • - Công an Quận 10; (3)
  • - Chi cục THADS Quận 10; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (3)
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (11)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Hiếu Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 84/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đặng Ngọc Dung và đồng phạm bị VKSND Q10 truy tố về tội Tổ chức, tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger