|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 84/2025/HSST Ngày: 12/3/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Huy Luận
- Ông Đặng Thanh Tấn
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Ngô Thái Hà - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Phan Thiết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Phan Thiết: Ông Trần Thị Hòa Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 356/2024/HSST ngày 11 tháng 12 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 423/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2025/HSST ngày 09/01/2025 và Thông báo mở lại phiên tòa số 70/TB-TA ngày 07/2/2025 đối với bị cáo:
Lê Hoàng T (tên gọi khác: Lê Hoàng T1)
Giới tính: nam, Sinh năm 1980 tại tỉnh Vĩnh Long, Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, Dân tộc: Kinh, Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 5/12, Nghề nghiệp: buôn bán, Cha: Lê Hoàng M, sinh năm 1933 (đã chết), Mẹ: Huỳnh Thị Y, sinh năm 1942 (đã chết), Anh chị em ruột: có 07 người, bị cáo là con thứ năm trong gia đình, V, con: chưa có, Tiền án, tiền sự: không, Nhân thân: không, Bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã vào ngày 14/9/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - Phân trại tạm giam khu vực P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Theo cáo trạng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 17/12/2009, ngày 10/01/2010 và ngày 19/01/2010, Lê Hoàng T 03 lần thực hiện hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào tối ngày 16/12/2009, Nguyễn Văn S cùng với Trương Thượng Đ, Mai Khánh K và đối tượng tên T2 (không rõ nhân thân) bàn bạc thống nhất cùng đến thành phố P trộm cắp xe mô tô 02 bánh bán lấy tiền tiêu xài. Cả nhóm chuẩn bị 01 cái mỏ lết và 01 chùm chìa khóa, sau đó đón xe khách từ thành phố B, tỉnh Đồng Nai đi thành phố P. Khoảng 00 giờ ngày 17/12/2009, cả nhóm xuống xe ở Bến xe B, rồi đi lòng vòng trên địa bàn thành phố P. Khi đi sâu vào một con hẻm gần đường ray xe lửa cũ thuộc phường P, thành phố P thì nhìn thấy trong sân nhà anh Nguyễn Trung T3, có dựng 01 chiếc xe mô tô mang biển số 86L1- 7312, hiệu xe Boss, dáng xe Dream, màu nâu và 01 chiếc xe mô tô biển số 86K2- 4229, hiệu xe Sirius, màu xanh. Lúc này đối tượng T2 dùng mỏ lết mang theo bẻ gãy khoen cửa cổng và cùng với S, Đ vào trong khuôn viên nhà dắt 02 chiếc xe mô tô ra ngoài, còn K thì đứng bên ngoài làm nhiệm vụ cảnh giới. Sau đó, cả nhóm điều khiển 02 xe mô tô vừa trộm được về thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Đến sáng ngày 17/12/2009, Nguyễn Văn S điều khiển chiếc xe mô tô biển số 86L1- 7312 đến quán cà phê của Lê Hoàng T ở xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai và bán cho T với giá 1.500.000 đồng. Do T và Sáng quen nhau từ trước và hứa hẹn về việc Sáng sẽ mang những chiếc xe không có giấy tờ đến để T bán lại cho người khác nhằm hưởng chênh lệch nên khi thấy S mang xe mô tô biển số 86L1- 7312 đến bán, T không hỏi gì thêm mà đồng ý mua. Sau khi mua xe, T tháo biển số xe ra và đục số máy của chiếc xe trên. Tín nhờ Nguyễn Hoàng K1 giới thiệu anh Nguyễn Công A đến mua lại chiếc xe trên với giá 2.500.000 đồng. Sau khi bán xe, T cho K1 100.000 đồng, T thu lợi bất chính là 900.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã thu hồi được chiếc xe không biển số hiệu xe Boss, dáng xe Dream, màu nâu (xác định biển số gốc là 86L1- 7312), có số máy VMSA4B-H033896 và số khung RLDGSB6UM033896. Kết luận định giá tài sản xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 5.850.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho bị hại là anh Nguyễn Trung T3, sau khi nhận lại xe, anh T3 không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Lần thứ 2: Vào tối ngày 09/01/2010, sau khi bàn bạc về việc trộm cắp xe mô tô để bán lấy tiền tiêu xài, Nguyễn Văn S cùng với Mai Khánh K và đối tượng tên T2 (chưa rõ nhân thân) chuẩn bị 01 cái mỏ lết và 01 chùm chìa khóa, rồi đón xe khách từ thành phố B, tỉnh Đồng Nai đi thành phố P. Khoảng 00 giờ ngày 10/01/2010, cả nhóm xuống xe và đi bộ vào nội thành Phan T4. Khi đến con hẻm S đường T thuộc khu phố G, phường P, thành phố P, cả nhóm nhìn thấy bên hiên nhà ông Bùi Văn P có dựng chiếc xe mô tô hiệu Angel, màu xanh biển số 86K6- 7040 xe thuộc quyền sở hữu của anh Huỳnh Vũ T5, để nhờ tại nhà ông P. T2 dùng mỏ lết bẻ khoen khóa cửa cổng đi vào nhà với K, rồi dắt chiếc xe trên ra khỏi nhà và đi đến nơi Sáng đang đứng cảnh giới và trông coi chiếc xe mô tô biển số 64H5- 0247 loại xe Kimco, màu đen (xe do cả nhóm vừa trộm được của anh Nguyễn Thanh T6, sinh năm 1974, trú tại khu phố G, phường P, thành phố P). Sau đó, cả nhóm mở được công tắc điện của 02 xe trên và điều khiển chạy về B, tỉnh Đồng Nai. Đến sáng ngày 10/01/2010, Nguyễn Văn S điều khiển chiếc xe mô tô biển số 86K6- 7040, hiệu Angel màu xanh đến quán cà phê của Lê Hoàng T ở xã X, huyện X và bán cho T với giá 800.000 đồng. Sau khi mua chiếc xe mô tô mang biển số 86K6- 7040 từ Sáng, T tháo biển số xe ra và bán cho Nguyễn Hoàng K1 với giá là 1.200.000 đồng, T thu lợi bất chính số tiền 400.000 đồng. Sau đó, K1 gắn biển số xe 60F2- 1029 vào chiếc xe vừa mua lại của T, rồi bán cho anh Nguyễn Văn V1 với giá 1.400.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã thu hồi được chiếc xe mô tô hiệu Angel màu xanh biển số 60F2- 1029 (xác định biển số gốc là 86K6- 7040), có số máy VMEVA2077881 và số khung RLGXA10CD4D0778814. Kết luận định giá tài sản xác định trị giá của chiếc xe trên là 7.500.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bị hại Huỳnh Vũ T5, anh T5 đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Lần thứ 3: Vào tối ngày 18/01/2010, Trương Thượng Đ và đối tượng tên T2 (không rõ nhân thân) chuẩn bị 01 cái mỏ lết làm công cụ phá khóa cửa, rồi đón xe khách từ thành phố B, tỉnh Đồng Nai đi thành phố P nhằm mục đích trộm xe mô tô. Khoảng gần 24 giờ cùng ngày, cả 02 xuống xe và đi bộ đến khu dân cư Đông Xuân A1, thành phố P, khi đến nhà anh Đặng Văn L, cả 02 nhìn thấy trong sân nhà anh L có dựng 02 chiếc xe mô tô gồm: xe biển số 86F6- 8125, loại xe Wave, màu xanh và xe biển số 86H9- 1323, loại xe Wave, màu đen, xe do vợ anh L là Nguyễn Thị Tú L1, đứng tên chủ sở hữu. T2 đi đến dùng mỏ lết mang theo bẻ khóa cửa cổng và cùng Đ vào sân nhà dắt 02 chiếc xe trên ra ngoài đường. Sau khi mở được công tắc điện của 02 xe mô tô vừa trộm được, Đ và T2 điều khiển xe chạy về thành phố B. Sáng ngày 19/01/2010, T2 nhờ Nguyễn Văn S mang chiếc xe biển số 86H9- 1323 loại xe Wave, màu đen đi bán dùm. Sáng đồng ý nên đã điều khiển chiếc xe mô tô này đến quán cà phê của Lê Hoàng T ở xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai bán cho T với giá 800.000 đồng. Sau khi mua xe, Tín tháo biển số xe ra và gửi ở nhà của Nguyễn Hoàng K1 ở ấp V, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai chờ có người mua thì bán.
Cơ quan điều tra đã thu hồi được chiếc xe không biển số nhãn hiệu Wave, màu đen (xác định biển số gốc là 86H9- 1323) có số máy 152FMH113977 và số khung HIRH7A113977. Kết luận định giá tài sản xác định trị giá của chiếc xe trên là 3.360.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bị hại Nguyễn Thị Tú L1, chị L1 đã nhận xe, không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Sau khi bị phát hiện khởi tố, Lê Hoàng T bỏ trốn nên ngày 17/7/2010 Cơ quan điều tra Công an thành phố P ra Quyết định truy nã số 25.
Đối với hành vi của Nguyễn Văn S, Mai Khánh K, Nguyễn Bá T7, Trương Thượng Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và hành vi của Nguyễn Hoàng K1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), ngày 13/10/2010, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã xét xử tại Bản án số 172.
Ngày 14/9/2024, Lê Hoàng T bị bắt theo Quyết định truy nã tại tỉnh Kiên Giang, Cơ quan điều tra Công an thành phố P đã tiếp nhận người và tiến hành phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra điều tra bị can. Quá trình điều tra, Lê Hoàng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, T biết rõ 03 chiếc xe mô tô do Nguyễn Văn S đem đến bán là xe do phạm tội mà có vì xe không có giấy tờ, ổ khóa công tắc điện của xe bị phá hỏng, giá bán rẻ hơn giá thị trường nên đồng ý mua để bán lại nhằm thu lợi.
Cáo trạng số 352/CT-VKS ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Lê Hoàng T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, giữ quyền công tố đã luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Lê Hoàng T từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Nói lời sau cùng: Bị cáo xác định cáo trạng truy tố là đúng, không oan, nên không tranh luận gì, thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định: Vào ngày 17/12/2009, ngày 10/01/2010 và ngày 19/01/2010 tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Mặc dù biết rõ 03 chiếc xe mô tô, gồm xe mô tô biển số 86L1- 7312, xe mô tô biển số 86K6- 7040 và xe mô tô biển số 86H9 -1323 do Nguyễn Văn S trộm cắp mà có, nhưng Lê Hoàng T vẫn đồng ý mua với mục đích bán lại cho người khác nhằm hưởng chênh lệch. Sau đó, T nhờ Nguyễn Hoàng K1 giới thiệu người mua 02 chiếc xe mô tô, gồm xe mô tô biển số 86L1- 7312, xe mô tô biển số 86H9-1323 và trực tiếp bán cho K1 chiếc xe mô tô biển số 86K6- 7040 để thu lợi số tiền 1.300.000 đồng, nên việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đối với bị cáo là có căn cứ. Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Hoàng T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
[3] Đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, mất an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có sức khỏe, nhưng không chịu lao động chân chính, mà chọn cho mình con đường phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo thực hiện hai lần phạm tội, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội từ hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, khi phạm tội có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, tự nguyện bỏ tiền ra chuộc xe về trả lại cho bị hại và nộp lại tiền thu lợi bất chính nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 01, khoản 02 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt đối với bị cáo: Khoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự quy định: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự”.
Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét đến nhân thân của bị cáo. Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, khi phạm tội có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, tự nguyện bỏ tiền ra chuộc xe trả cho bị hại, nộp lại tiền thu lợi bất chính và mức độ nguy hiểm cho xã hội là không lớn, bên cạnh đó bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/9/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - Phân trại tạm giam khu vực P. Tính đến thời điểm xét xử thì thời gian tạm giam đã kéo dài 05 tháng 28 ngày tù cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận trong thời gian bị tạm giam đã nhận thức được hành vi sai trái của mình và cam đoan từ nay về sau sẽ không vi phạm pháp luật. Do vậy, để tạo điều kiện cho bị cáo phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội và tái hòa nhập với cộng đồng nên chỉ cần buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù với thời gian thích hợp ngắn nhất là bằng với thời gian tạm giam để trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa. Như vậy đã đạt được mục đích của hình phạt cũng như thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Không xử lý vật chứng
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Căn cứ khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 299 và khoản 5 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Lê Hoàng T 05 tháng 28 ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam 14/9/2024 (thời hạn phạt tù bằng thời gian tạm giam nên bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù).
Trả tự do cho bị cáo Lê Hoàng T ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
2. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (12/3/2025).
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN | CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Võ Huy Luận | Đặng Thanh Tấn | Nguyễn Lưu Triều |
Nơi nhận:
- - VKSND TP .;
- - VKSND tỉnh Bình Thuận;
- - TAND tỉnh Bình Thuận;
- - Công an tp P;
- - Người tham gia tố tụng;
- - Thi hành án thành phố P;
- - Lưu hồ sơ.
|
TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM T-Chủ Tọa Phiên Tòa Nguyễn Lưu Triều |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
QUYẾT ĐỊNH TRẢ TỰ DO CHO BỊ CÁO
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
Số: 01/2025/HSST-QĐ P, ngày 12 Tháng 3 năm 2025
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Huy L2
- Ông Đặng Thanh T8
Căn cứ vào Điều 299 và khoản 5 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 12 tháng 3 năm 2025 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;
Xét thấy bị cáo có thời hạn phạt tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo sau đây đang bị tạm giam, nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác: Lê Hoàng T (tên gọi khác: Lê Hoàng T1) Giới tính: nam; Sinh năm 1980 tại tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
Bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
Xét xử về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Và quyết định xử phạt: Lê Hoàng T 05 tháng 28 ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam 14/9/2024 (thời hạn phạt tù bằng thời gian tạm giam nên bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù).
Trả tự do cho bị cáo Lê Hoàng T ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
2. Trại tạm giam Công an tỉnh B - Phân trại tạm giam khu vực P có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Nơi nhận:
- - Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Thuận
- Phân trại tạm giam khu vực Phan Thiết;
- - VKS thành phố Phan Thiết;
- - Bị cáo Lê Hoàng Tín;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
| THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | |
| THẨM PHÁN | |
| Nguyễn Lưu Triều |
Bản án số 84/2025/HSST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 84/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
