TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2025/HS-ST Ngày 28/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai Lan.
Thẩm phán: Ông Đỗ Tuấn Long.
Hội thẩm nhân dân: Bà Lèo Thị Chan, bà Vi Thị Bình, bà Trần Thị Nga.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Thành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 76/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2025/QĐXXST-HS, quyết định hoãn phiên toà số: 65/2025/HSST-QĐ, đối với bị cáo:
1. Lò Văn T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 21 tháng 5 năm 1990 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện M (nay là thị xã M), tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Lò Văn B, sinh năm 1948 và bà Lò Thị Â, sinh năm 1950; bị cáo có vợ là Hoàng Thị N, sinh năm 1990, có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án: Không; tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 11/2017/HSST ngày 27/10/2017 của Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo 30 tháng tù giam về tội mua bán trái phép chất ma tuý (đã được xóa án tích); Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2025 đến nay, có mặt tại phiên toà.
2. Nguyễn Thị T1, T2 gọi khác: Không, sinh ngày 06 tháng 3 năm 1973 tại huyện M, tỉnh Hưng Yên; Nơi cu trú: Thôn Q, Xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Đảng phái đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn B1 (đã chết) và bà Trương Thị N1 (đã chết); bị cáo có chồng là Vũ Văn L, sinh năm 1971, có 01 con sinh năm 1992; Tiền án: Bản án số 55/2021/HSST ngày 23/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xử phạt bị cáo 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ngày 31/8/2023 chấp hành xong án tù trở về địa phương; Tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 22/2006/HSST ngày 30/11/2006 của Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích); Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/7/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn T: Ông Đàm Mạnh H - Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh S. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị T1: Ông Cầm Văn T3 - Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh S. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lò Văn T4, sinh năm: 1997; địa chỉ: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 17 giờ 10 phút ngày 09/7/2024 tổ công tác Công an huyện V, tỉnh Sơn La phối hợp với các lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang Lò Văn T (sinh năm 1990, trú tại bản Tòng, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La) về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy khi đang trên xe TAXI biển kiểm soát 26A-069.16 do Văn Khắc L1 (sinh năm 1989, trú tại bản T, xã M, huyện M) điều khiển theo hướng Sơn La đi Hà Nội, trên xe cùng đi có Lò Văn T4 (sinh năm 1997, trú cùng bản với Lò Văn T). Vật chứng thu giữ gồm: 02 bánh hình chữ nhật trong có bột trắng nghi là H1 thu giữ trong túi xách màu đen để trong cốp sau xe ô tô (T khai là H1 đang trên đường mang đi bán cho Nguyễn Thị T1 ở huyện L,tỉnh Hà Nam); 2.000.000đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO đã cũ thu giữ của Lò Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y15 đã cũ qua sử dụng của Lò Văn T4. Mở rộng điều tra ngày 10/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã bắt, giữ khẩn cấp, khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1973, trú tại thôn Q, xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam), thu giữ 02 chiếc thoại di động (01 chiếc Nokia màu xanh, 01 chiếc iphone 11 Promax); 180.000.000đ và một số đồ vật liên quan.
Ngày 09/7/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện V, tỉnh Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong cân tịnh xác định khối lượng vật chứng nghi là ma túy đã thu giữ, kết quả: Số chất bột màu trắng nghi là H1 có khối lượng 609,66 gam,trích 0,87 gam làm mẫu giám định đánh ký hiệu T, T2.
Kết luận giám định số 1451/KL-KTHS ngày 11/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận:
- Mẫu ký hiệu T,T2 gửi giám định đều là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diaceltylmorphine,được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là T=0,49 gam; T2=0,38 gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 609,66 gam,loại Heroine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận:
Đầu tháng 4/2024 Lò Văn T đi đến đường B - Lào của huyện M, tỉnh Sơn La chơi thì gặp một người đàn ông tên T5, quốc tịch Lào. Quá trình nói chuyện T5 bảo có quen một chị tên T1 ở Hà Nam và T5 muốn thuê Lò Văn T vận chuyển H1 đi bán cho T1 mỗi bánh H1 đi bán cho T1 mỗi bánh Heroine với giá 95.000.000đ cầm tiền về rồi T5 sẽ trích trả tiền công 25.000.000đ/01 bánh Heroine, T đồng ý. Sau đó T5 kết bạn Facebook với T và cho số điện thoại của T1 để liên hệ. T gọi điện thoại cho T1 nói: “Em là T ở huyện M, tỉnh Sơn La, anh T5 có giới thiệu chị cho em mang H1 đi bán giúp, có gì chị liên hệ với em”, thì T1 bảo: “Ừ, có gì chị gọi”. Đến cuối tháng 4/2024 T đi Hà Nam có vào nhà T1 chơi để biết nhà. Ngày 06/7/2024 T1 gọi điện cho T đặt mua hai bánh Heroine, được T báo giá 95.000.000đ/01 bánh. Sau khi thỏa thuận xong, T liên lạc với T5 để đặt mua hai bánh Heroine, đến khoảng 6 giờ ngày 09/7/2024 T đi bộ một mình đến khu vực biên giới thuộc bản C, Xã C, huyện M, tỉnh Sơn La gặp T5 và mua nợ 02 bánh Heroine, hẹn với T5 khi nào bán được sẽ trả tiền. Sau khi nhận được ma túy, trên đường về T gọi cho cháu họ là Lò Văn T4 rủ cùng đi Hà Nam chơi, T4 đồng ý. Sau đó T gọi điện cho T1 bảo “Chuyển em ít tiền đi đường nay em mang ma túy xuống”, T1 đồng ý. Thạch đọc số tài khoản của T4 cho T1 và được T1 chuyển số tiền 3.000.000đ. Sau khi nhận được tiền của T1 chuyển, T gọi điện bảo T4 chuyển lại số tiền 3.000.000đ vừa nhận được vào tài khoản của T đồng thời bảo cho T1 biết đã nhận được tiền và hẹn 05 giờ sáng ngày 10/7/2024 sẽ giao ma túy cho T1 tại địa điểm gần nhà T1. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày (09/7/2024) T gặp T4 gần chỗ ở của T4 thuộc bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La rồi cả hai bắt xe taxi ra bản Lùn, xã M, huyện M và tiếp tục bắt xe taxi khác để đi Hà Nam, khi lên xe T cầm chiếc túi xách đựng ma túy đặt vào cốp sau xe taxi, di chuyển theo hướng ra quốc lộ F để đi Hà Nam theo hướng M - Hà Nội, khi đi đến khu vực bản P, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La thì bị bắt quả tang. Về nguồn gốc ma túy thu giữ, Lò Văn T và Nguyễn Thị T1 khai mua của người có tên là T5, Q Lào, gặp và quen khi đi chơi ở khu vực biên giới Việt Nam - Lào, T5 sử dụng Facebook “Hlubkojxwb” nhưng T và T1 không biết rõ về nhân thân, địa chỉ cư trú cụ thể cũng như không có số thuê bao di động của T5. Ngoài lời khai của bị can không có tài liệu, chứng cứ khác để tiến hành điều tra, xác minh làm rõ.
*Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKS-P1 ngày 25/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Lò Văn T và Phạm Thị T6 về tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015.
*Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố bị cáo Lò Văn T và Nguyễn Thị T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lò Văn T.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị T1.
Đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn T, Nguyễn Thị T1 tù chung thân.
Không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với các bị cáo.
+ Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với 608,79 gam Heroine (còn lại sau khi trích mẫu giám định) cùng các vỏ niêm phong ban đầu; 01 túi đựng đồ màu đỏ đen có các chữ nước ngoài có quai sách màu đen; 01 túi nilon màu đỏ và 01 túi nilon màu trắng.
Đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Số tiền 3.000.000đ trong tài khoản ngân hàng của T bị cơ quan CSĐT công an huyện V, tỉnh Sơn La ra lệnh phong tỏa tài khoản số 394 ngày 11/7/2024; 180.000.000₫ của Nguyễn Thị T1 khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đen và điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh đen đều đã qua sử dụng tạm giữ của Lò Văn T; Điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh tạm giữ của Nguyễn Thị T1.
Đề nghị trả lại số tiền 2.000.000đ tạm giữ cho bị cáo Lò Văn T.
Đề nghị trả lại điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 11 Promax, màu vàng bên trong có một thẻ sim cho bị cáo Nguyễn Thị T1.
Đề nghị trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y15s màu xanh đen bên trong có chứa sim, đã qua sử dụng cho anh Lò Văn T4.
Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Lò Văn T: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo và tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, điểm t khoản 1 Bộ luật hình sự, xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị T1: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo và tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, điểm t khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố, nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lò Văn T và Nguyễn Thị T1 khai nhận Ngày 09/7/2024, Lò Văn T có hành vi vận chuyển 609.66 gam Heroine từ M đến huyện L, tỉnh Hà Nam nhằm mục đích bán cho Nguyễn Thị T1 để bán cho người khác, khi đến bản P, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La thị bị Tổ công tác Công an huyện V thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ số ma tuý nêu trên.
Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau đây
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ 15 phút tại bản Pa Kha xã L, huyện V, tỉnh Sơn La đối với Lò Văn T và vật chứng thu giữ
- Kết luận giám định số 1451/KL-KTHS ngày 11/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận:
“Mẫu ký hiệu T,T2 gửi giám định đều là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diaceltylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là T=0,49 gam; T2=0,38 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 609,66 gam, loại Heroine”.
- Biên bản bắt giữ người trong trường hợp khẩn lập cấp hồi 17 giờ 45 phút ngày 10/7/2024 đối với Nguyễn Thị T1 tại nhà tạm giữ Công an huyện V.
- Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác đã thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Với các căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Lò Văn T và Nguyễn Thị T1 đã phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[3] Về khung hình phạt áp dụng: Các bị cáo Lò Văn T và Nguyễn Thị T1 thực hiện hành vi phạm tội với khối lượng 609,66 gam Heroine, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Heroine, C, Methamphetamine ... có khối lượng từ 100 gam trở lên” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân:
Đối với bị cáo Lò văn Thạch có 01 tiền án đã được xóa án tích.
Bị cáo Nguyễn Thị T1 có 01 tiền án đã được xóa án tích; có một tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy tại Bản án số 55/2021/HSST ngày 23/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xử phạt bị cáo 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ngày 31/8/2023 chấp hành xong.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo T1 có một tình tiết tăng nặng là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, bị cáo T1 là lao động chính trong gia đình, có chú ruột là Ông Nguyễn Văn D liệt sĩ được Ủy ban nhân dân xã X, bị cáo T1 tích cực hợp tác là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t, khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lò Văn T được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, t, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Do hám lợi, các bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng lớn, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy.
Về vai trò Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo T chuyển ma túy cho bị cáo T1 để bán cho người khác với mục đích hưởng tiền công.
Hội đồng xét xử sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy cần thiết xử phạt bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đảm bảo tính giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung, cũng như công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay.
[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp, có hoàn cảnh khó khăn, không có khả năng thi hành nên cần chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát và Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về nguồn gốc số ma tuý và các đối tượng liên quan trong vụ án:
[7.1] Về nguồn gốc 609.66 gam Heroine thu giữ của bị cáo Lò Văn T. Lò Văn T và Nguyễn Thị T1 khai mua của người có tên là T5, Q Lào, gặp và quen khi đi chơi ở khu vực biên giới Việt Nam - Lào, T5 sử dụng Facebook “Hlubkojxwb” nhưng T và T1 không biết rõ về nhân thân,địa chỉ cư trú cụ thể cũng như không có số thuê bao di động của T5. Ngoài lời khai của bị can không có tài liệu, chứng cứ khác để tiến hành điều tra, xác minh làm rõ. Do vậy, ngoài lời khai của bị cáo, Cơ quan điều tra không có căn cứ mở rộng điều tra.
[7.2] Đối với Lò Văn T4, sinh năm 1997, trú tại bản Tòng, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La là người có số tài khoản nhận tiền của T1 chuyển, là người cùng T đi Hà Nam và có mặt khi bắt quả tang T. Kết quả điều tra xác định do có quan hệ họ hàng nên T nhờ chuyển tiền vào tài khoản của T4, được T rủ đi tỉnh Hà Nam chơi, đối với Văn Khắc L1, sinh năm 1989, trú tại bản T, xã M, huyện M là lái xe taxi được T thuê, T4 và L1 đều không biết và không tham gia vào việc mua bán trái phép chất ma túy của T và T1 nên không xem xét xử lí.
[8] Về xử lý vật chứng vụ án và tài sản liên quan:
- Đối với 608,79 gam Heroine còn lại sau khi đã trích mẫu gửi giám định. Xét thấy, chất ma tuý là vật nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (Một) chiếc túi đựng đồ màu đỏ đen + 01 (Một) túi nilon màu đỏ + 01 (Một) túi nilon màu trắng + 01 (Một) que thử ma túy mang tên Lò Văn T + 01 (Một) que thử ma túy mang tên Lò Văn T4 + 01 (Một) que thử ma túy mang tên Văn Khắc L1 là vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đen (thu giữ của Lò Văn T) + 01 Điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh đen (thu giữ của Lò Văn T) + 01 điện thoại di động Nokia màu xanh (thu giữ của Nguyễn Thị T1) + 180.000.000đ (thu giữ của Nguyễn Thị T1), xét thấy là vật chứng trong vụ án để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- + Số tiền 3.000.000đ trong tài khoản ngân hàng của T bị cơ quan CSĐT công an huyện V, tỉnh Sơn La đã ra lệnh phong tỏa tài khoản số 394 ngày 11/7/2024 xét thấy là vật chứng trong vụ án sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 11 Promax, màu vàng bên trong có một thẻ sim xét thấy là tài sản của bị cáo không sử dụng thực hiện hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T1;
- Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y15s màu xanh đen bên trong có chứa sim, xác định tài sản của Lò Văn T4 không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
- Đối với 2.000.000 thu giữ của Lò Văn T xác định là tài sản của bị cáo T không sử dụng thực hiện hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
[9] Về án phí: Bị cáo Lò Văn T được là người dân tộc thiểu số sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
Bị cáo Nguyễn Thị T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:
1.1. Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giữ, tạm giam (ngày 09/7/2024).
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T1 phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giữ, tạm giam (ngày 10/7/2024).
1.2. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên xử lý vật chứng như sau:
2.1. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) hộp vật chứng nguyên niêm phong. Một mặt hộp vật chứng ghi: “Vật chứng còn lại ký hiệu T1 = 295.37 gam; T3 = 313.42 gam cùng gói nilon đựng gỗ khô chặt nhỏ + lớp giấy trắng dán giấy niêm phong ban đầu + túi nilon màu đen + mảnh xốp nhựa màu trắng + các mảnh nilon ban đầu vụ: Lò Văn T, SN: 1990, trú tại: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, có hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy xảy ra tại: bản P, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La ngày 09/7/2024”. Tại mép dán giáp lai của hộp được dán giấy niêm phong do Công an tỉnh S phát hành từ số 068727 đến 068731, Trên giấy niêm phong có ghi “CƠ QUAN CSĐT CÔNG AN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA, Hồi 22 giờ 20 phút ngày 09/7/2024” và có đầy đủ chữ ký họ tên của các thành phần tham gia, chữ ký họ tên của người bị bắt cùng một dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện V, tỉnh Sơn La.
(Theo kết luận giám định số 1451/KL-KTHS ngày 11/7/2024 của Phòng KTHS – Công an tỉnh S thì mẫu gửi giám định ký hiệu T, T2 đều là ma tuý loại Heroin)
- 01 (Một) Phong bì thư do bưu điện V phát hành nguyên niêm phong. Mặt trước phong bì thư ghi: “Que thử ma túy của Lò Văn T, sinh năm 1990, trú tại bản Tòng, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, thử ngày 09/7/2024”. Tại mép dán giáp lai của phong bì thư được dán giấy niêm phong số 068733 do Công an tỉnh S cấp, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia cùng một hình dấu đỏ của Công an huyện V, tỉnh Sơn La.
- 01 (Một) Phong bì thư do bưu điện V phát hành nguyên niêm phong. Mặt trước phong bì thư ghi: “Que thử ma túy của Lò Văn T4, sinh năm 1997, trú tại bản Tòng, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, thử ngày 09/7/2024”. Tại mép dán giáp lai của phong bì thư được dán giấy niêm phong số 068734 do Công an tỉnh S cấp, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia cùng một hình dấu đỏ của Công an huyện V, tỉnh Sơn La.
- 01 (Một) Phong bì thư do bưu điện V phát hành nguyên niêm phong. Mặt trước phong bì thư ghi: “Que thử ma túy của Văn Khắc L1, sinh năm 1989, trú tại bản T, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, thử ngày 09/7/2024”. Tại mép dán giáp lai của phong bì thư được dán giấy niêm phong số 068735 do Công an tỉnh S cấp, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia cùng một hình dấu đỏ của Công an huyện V, tỉnh Sơn La.
- 01 (Một) chiếc túi đựng đồ màu đỏ đen có quai sách màu đen,trên túi có chữ nước ngoài, đã qua sử dụng cũ.
- 01 (Một) túi nilon màu đỏ đã qua sử dụng cũ.
- 01 (Một) túi nilon màu trắng đã qua sử dụng cũ.
2.2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- 01 (Một) Điện thoại di động NOKIA màu xanh đen bên trong có 01 sim điện thoại, pin điện thoại bị phồng, đã qua sử dụng (thu giữ của Lò Văn T).
- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đen bên trong có 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng (thu giữ của Lò Văn T).
- 180.000.000₫ đựng trong phong bì đã niêm phong, ghi “Vật chứng vụ: Lò Văn T và Lò Văn T4 - Mua bán trái phép chất ma túy xảy ra ngày 09/7/2024, tại xã L, huyện V, tỉnh Sơn La, trong số tiền VNĐ 182.000.000đ (Một trăm tám mươi hai triệu đồng).
- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh, bên trong gắn 02 thẻ sim, đã qua sử dụng cũ (thu giữ của Nguyễn Thị T1).
2.3. Trả lại cho bị cáo:
- Bị cáo Lò Văn T 2.000.000₫ trong phong bì nguyên niêm phong. Mặt trước của phong bì có ghi “Vật chứng vụ: Lò Văn T và Lò Văn T4 Mua bán trái phép chất ma túy xảy ra ngày 09/7/2024, tại xã L, huyện V, tỉnh Sơn La. Niêm phong hồi 09 giờ 20 phút ngày 01/8/2024. Tại phòng PC09 - Công an tỉnh S. Gồm số tiền VNĐ 182.000.000đ (Một trăm tám mươi hai triệu đồng).
- Bị cáo Nguyễn Thị T1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, loại 11 Promax, vỏ màu xanh, bên trong gắn 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng (Thu giữ của Nguyễn Thị T1).
2.4. Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lò Văn T4:
- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y15s màu xanh đen, bên trong gắn 02 sim điện thoại,đã qua sử dụng cũ (thu giữ của Lò Văn T4). Tại thời điểm giao, nhận không kiểm tra được thông tin, seri, I và tình trạng hoạt động của chiếc điện thoại do hết pin, không bật được nguồn.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 3 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Cục thi hành án dân sự tỉnh Sơn La).
* Huỷ bỏ lệnh phong toả tài khoản số 394/LPT-CQCSĐT ngày 11/7/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện V, tỉnh Sơn La số tiền 3.000.000₫ (ba triệu đồng) trong tài khoản 0399263869 tại ngân hàng M của Lò Văn T.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 3.000.000đ (ba triêụ đồng) trong tài khoản (trên). Tài khoản số 0399263869 tại ngân hàng M của Lò Văn T.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Lò Văn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo Nguyễn Thị T1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/5/2025); Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đinh Thị Mai Lan |
Bản án số 84/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 84/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Thạch Nguyễn Thị Thắm mua bán trái phép chất ma tuý
