TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2025/HS-ST
Ngày 25/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Xuân Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Phụng
- Ông Trần Minh Hải
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Lan Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quang Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2025/TLST-HS ngày 10/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2025/QĐXXST-HS ngày 13/6/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh T, sinh ngày 10/9/1972; Nơi cư trú: Số nhà A, ngõ D, phố L, tổ F, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình T1 và bà Nguyễn Thị M (đều đã chết); Bị cáo có vợ là chị Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1974 và có 02 con (con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2003); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định số 09/QĐ-TA ngày 17/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; đã chấp hành xong quyết định ngày 13/5/2021; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 10/3/2025 đến ngày 16/3/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Trích xuất có mặt tại phiên tòa)
* Người chứng kiến:
- Anh Lê Văn T2, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số nhà A, ngõ A, tổ A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
- Anh Lê Quang L, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số nhà B, tổ E, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 10/03/2025 Nguyễn Minh T đi nhờ xe máy của người không quen biết đến khu vực vườn hoa, thuộc phường Đ, thành phố T thì xuống xe, T đi bộ một đoạn gặp và mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ 01 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng. T cất túi ma túy vào túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi đi nhờ xe của người không quen biết để về nhà. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày T đang đi bộ trên đường L, phường Đ, thành phố T thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phối hợp Công an phường Đ tuần tra phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Lê Văn T2 và anh Lê Quang L, T đã tự giác lấy ra từ túi quần bên trái của T đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt có nẹp cài viền màu đỏ bên trong chứa chất tinh thể trong suốt và khai nhận đó là ma túy đá vừa mua về để sử dụng. Tổ công tác đã niêm phong số ma túy trên gửi đi giám định. Kiểm tra người Tuyên còn thu giữ tại túi quần bên phải phía trước T đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA vỏ màu đen, đã qua sử dụng. Sau đó tổ công tác đưa T và mời người chứng kiến về trụ sở Công an phường Đ, thành phố T lập biên bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định.
Bản kết luận giám định số 230/KL-KTHS ngày 14/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3258 gam (không phẩy ba nghìn hai trăm năm mươi tám gam). Methamphetamine. STT: 247 Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 90/CT-VKSTPTB ngày 10/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3258 gam, sau khi lấy mẫu giám định còn 0,2620 gam ma túy, loại Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Minh T và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 230/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA vỏ màu đen, đã qua sử dụng. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với các bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an tỉnh T lập tại trụ sở Công an phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình ngày 10/3/2025; Bản kết luận giám định số 230/KL-KTHS ngày 14/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh T; Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến là anh Lê Văn T2 và anh Lê Quang L cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, phù hợp với các chứng cứ nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 10/3/2025, tại khu vực trục đường L, phường Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Minh T có hành vi tảng trữ trái phép trên người 01 túi ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3258 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh T phối hợp với Công an phường Đ tuần tra phát hiện, bắt quả tang. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Minh T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự:
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng và an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được tác hại rất lớn của ma túy, nhận thức được việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp mua về và cất giữ trong người để sử dụng cho bản thân với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố đối với bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những phân tích, nhận định về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải xử lý nghiêm minh, xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo và góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội. Do bị cáo đã từng chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà không biết tu dưỡng bản thân, vẫn sử dụng ma túy nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo 3.000.000 đồng sung vào Ngân sách nhà nước.
[6] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: 0,3258 gam ma túy, loại Methamphetamine, sau khi lấy mẫu giám định còn 0,2620 gam và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu giám định số 230/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh T là vật cấm tàng trữ lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA vỏ màu đen, đã qua sử dụng do không liên quan gì đến hành vi phạm tội.
[7] Về nguồn gốc số ma túy: Nguyễn Quang T3 khai mua của một người nam giới không biết tên tuổi, địa chỉ tại khu vực vườn hoa thuộc địa phận phường Đ, thành phố T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có căn cứ để điều tra, xử lý.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật và có quyền kháng cáo theo quy định tại điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 10/3/2025, phạt bổ sung 3.000.000 đồng sung vào Ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 0,3258 gam ma túy, loại Methamphetamine, sau khi lấy mẫu giám định còn 0,2620 gam và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu giám định số 230/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh T; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA vỏ màu đen, đã qua sử dụng.
(Các tài sản đồ vật trên có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng, tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 10/6/2025)
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Quang T3 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo Nguyễn Minh T có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 25/6/2025.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Xuân Quỳnh |
Bản án số 84/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 84/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh T - Tàng trữ trái phép chất ma túy
