|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2025/HS-ST
Ngày: 24-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tỵ.
Ông Vũ Khắc Quế.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy Hoa - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 73/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Đình L, sinh ngày 27/9/1972 tại Hà Tĩnh; hộ khẩu thường trú và cư trú: Số E P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình V, sinh năm 1932, hiện cư trú tại phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và con bà Lê Thị H (đã chết); vợ: Phạm Thị T, sinh năm 1971 hiện cư trú tại số E đường P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; con: Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 30/07/2019, bị Công an huyện B xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác theo Quyết định xử phạt hành chính số 103/QĐ-XPHC. Đã nộp phạt ngày 17/09/2019.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ/tạm giam từ ngày 07/01/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh L - Phân trại B, có mặt.
2. Họ và tên: Bùi Thị C, sinh ngày: 24/8/1968 tại Thái Bình; hộ khẩu thường trú và cư trú: Số D P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi A Sở (đã chết) và con bà Phạm Thị V1 (đã chết); chồng: Trần Văn K, sinh năm 1964 hiện cư trú tại phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; con: Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 07/01/2025 cho đến ngày 10/01/2025, bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/01/2025 cho đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Đình L: Ông Nguyễn Đình T1 - Là luật sư của Công ty L1 - thuộc Đoàn luật sư thành phố H, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 15 phút ngày 07/01/2025 tại đoạn đường HP, phường L, thành phố B, Công an thành phố B bắt quả tang Bùi Thị C đang đi bộ từ nhà ở địa chỉ D P sang phía lề đường đối diện và bê 01 thùng carton kích thước 24,5cm x 34,5cm x 21,5cm bên trong có 03 khối hộp hình chữ nhật, kích thước mỗi khối hộp 17cm x 17cm x 10cm đều có ký hiệu “KS4-4911”, bên ngoài dán giấy nhiều màu nghi là pháo hoa nổ. Công an thành phố B đã tiến hành lập biên bản bắt quả tang và niêm phong, thu giữ số tang vật nêu trên. Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà của Bùi Thị C ở địa chỉ số D P, phường L, thành phố B, Công an thành phố B phát hiện tại khu vực phòng ngủ ở cuối nhà, bên trái có 01 thùng xốp kích thước 59,5cm x 45cm x 34,5cm, bên trong có 02 bao bì màu đen có lót bao ni lông chứa 13 khối hộp hình chữ nhật, kích thước mỗi khối hộp 17cm x 17cm x 10cm đều có ký hiệu “KS4-4911”, bên ngoài dán giấy nhiều màu nghi là pháo hoa nổ. Công an thành phố B đã lập biên bản khám xét khẩn cấp và niêm phong, thu giữ toàn bộ số tang vật nêu trên. Bùi Thị C khai nhận 03 khối hộp hình chữ nhật Cơ quan điều tra thu giữ khi bắt quả tang và 13 khối hộp hình chữ nhật nêu trên thu giữ trong lúc khám xét khẩn cấp tại nhà C đều là pháo hoa nổ, nguồn gốc số pháo trên do Trần Đình L (hàng xóm của C) mang đến nhờ Cài cất dùm và nếu có người liên hệ mua pháo, L sẽ báo cho C biết để nhờ giao pháo cho người mua.
Cùng ngày 07/01/2025 Cơ quan điều tra Công an thành phố B tiến hành khám xét tại địa chỉ 50/8 - 5 P, phường L, thành phố B là nhà của Trần Đình L và bố đẻ của L là ông Trần Đình V (02 nhà chung cổng nằm sát nhau, có cửa thông giữa hai nhà ở phía sau qua một sân trống). Qua khám xét Cơ quan điều tra phát hiện trong 04 phòng ngủ của hai căn nhà có: 74 khối hộp nghi pháo hoa nổ loại 49 viên nổ (gồm 71 khối hộp có ghi ký hiệu “KS4-4911, 03 khối hộp có ghi ký hiệu “4049-A”); 14 khối hộp nghi pháo hoa nổ loại 138 viên nổ có ghi ký hiệu “4138”; 13 khối hộp nghi pháo hoa nổ loại 09 viên nổ có ghi ký hiệu “L6688-9”; 18 ống giấy hình trụ nghi pháo hoa nổ có ghi ký hiệu “ROMAN V 2.5 7SH”, “R87-7”; 02 hộp giấy nghi pháo nổ dạng dây gồm các viên đối xứng bọc giấy đỏ có ký hiệu “AK2000” và 07 bịch bên trong đựng 700 viên nhựa hình cầu nghi là pháo bị nổ. Trần Đình L khai nhận toàn bộ số vật liệu nghi pháo thu giữ trong 04 phòng ngủ của nhà 50/8-50/10 Phạm Ngọc T2, phường L là pháo nổ, L tàng trữ với mục đích tìm người mua bán lại kiếm lời, Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã lập biên bản khám xét khẩn cấp và niêm phong, thu giữ toàn bộ số tang vật nêu trên.
Qua điều tra đã xác định được như sau: Trần Đình L là tài xế xe tải, thường xuyên đi giao hàng tại các tỉnh lân cận và có gặp một người đàn ông chưa rõ lai lịch ở khu vực thị xã B, tỉnh Bình Phước có biệt danh “cậu Hai B” sử dụng tài khoản mạng xã hội zalo tên “Đồ Chơi”, người này giới thiệu có nguồn pháo hoa nổ, nếu L cần thì sẽ cung cấp cho L để bán kiếm lời vào dịp tết. Đến khoảng đầu tháng 6/2025 Trần Đình L sử dụng tài khoản Zalo tên “Trần Đình L” liên hệ với tài khoản Zalo tên “Đồ Chơi” để đặt mua pháo hoa nổ, sau đó người này đã giao cho L nhiều loại pháo khác nhau như pháo hoa nổ nhiều loại (09 viên, 49 viên, 138 viên, pháo hoa tầm cao dạng ống, pháo dây, pháo bi) để trong thùng giấy, bao tải, bịch nylon đen với tổng số tiền là 100.000.000 đồng. L đã trả trước cho người này số tiền 50.000.000 đồng, số còn lại hai bên thỏa thuận nếu L bán được sẽ thanh toán sau còn không bán được người này sẽ lên nhận lại pháo. Sau khi nhận được pháo, L mang về cất giấu vào gầm giường trong 02 phòng ngủ trong nhà L và cất trong 02 phòng ngủ trong nhà của ông Trần Đình V (bố của L, ông V thường xuyên vắng nhà).
Đến khoảng đầu tháng 01/2025 có 01 người gọi điện cho L liên hệ mua 18 hộp pháo hoa nổ loại 49 viên, sau đó L bỏ 18 hộp pháo vào 01 thùng xốp để giao cho người mua, tuy nhiên sau đó người này không mua nữa. Do đó L mang thùng xốp trên đến quán cà phê của Bùi Thị C ở địa chỉ D P, phường L, thành phố B là người quen của L và nhờ để ở đây, khi mang đến Lân chỉ nói là đồ linh tinh và phải đi giao hàng liên tỉnh nên nhờ để ở đây khi nào về sẽ lấy nên Bùi Thị C đồng ý. Sau đó vài ngày, bà C có gọi điện hỏi L thùng xốp chứa gì thì lúc này L thừa nhận là pháo hoa nổ và nhờ tiếp tục gửi ở quán cà phê của bà C khi nào về sẽ lấy thì bà C tiếp tục đồng ý. Đến ngày 06/01/2025 L được một người đàn ông sử dụng số điện thoại 0589.419.xxx liên hệ hỏi mua 02 hộp pháo hoa nổ loại 49 viên với số tiền 2.400.000 đồng và người này đã thanh toán tiền cho L, lúc này L sử dụng tài khoản Messenger tên “Lanthao Tran Dinh Lan” gọi điện thoại qua ứng dụng messenger vào tài khoản Messenger tên “Cai Bui” của Bùi Thị C và nói C bỏ 02 hộp pháo vào một chiếc túi rồi mang sang để ở lề đường đối diện nhà C sẽ có người đến lấy pháo. Sau đó Bùi Thị C đã lấy 02 hộp pháo từ trong thùng xốp để trong nhà và thực hiện theo lời L nói, sau khi có người đến lấy pháo, C nhắn tin qua tài khoản Messenger cho L thông báo “Nó lấy rồi” và “M lấy tiền nó tớ không biết nhé 2 bánh' thì L trả lời lại “Ok chị”. Đến ngày 07/01/2025 người đàn ông sử dụng số điện thoại 0589.419.xxx tiếp tục liên hệ với L hỏi mua tiếp 03 hộp pháo hoa nổ loại 49 viên, hai bên thỏa thuận số tiền là 3.900.000 đồng, sau đó L tiếp tục liên hệ với C và nhờ giao pháo theo phương thức như trên cho người mua và lần này L nhờ C thu hộ số tiền 3.900.000 đồng. Bùi Thị C đồng ý, sau đó vào khoảng 11 giờ 15 phút Cài tiếp tục lấy 03 hộp pháo từ trong thùng xốp để trong nhà bỏ vào một thùng cac tông và mang qua bên đường để cho người mua đến lấy. Tuy nhiên khi đang mang pháo qua bên đường thì bị Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang như đã nêu ở trên.
Tại bản kết luận giám định số 37 ngày 15/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận:
- - Toàn bộ tang vật gồm 101 khối hộp chữ nhật (trong đó 03 khối hộp có chữ “4049-A”, kích thước mỗi khối 10cm x 16,5cm x 16,5cm; 14 khối hộp có chữ “4138” mỗi khối kích thước 10cm x 25,5cm x 31cm; 13 khối hộp có chữ “L6688-9” mỗi khối kích thước 13,5cm x 13,5cm x 22cm; 71 khối hộp có chữ “KS4-4911: mỗi khối kích thước 10cm x 16,5cm x 16,5cm) đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ. Tổng khối lượng là 205kg.
- - 18 ống giấy hình trụ tròn, mỗi ống cao 85,5cm, đường kính ngoài 5,7cm bên ngoài ống dán nhiều giấy màu có chữu nước ngoài và dòng chữ “ROMAN V 2.5 7SH”, “R87-7” một đầu có sợi dây truyền từ trong thân ra đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ. Tổng khối lượng là 25,9kg.
- - 02 hộp giấy hình hộp chữ nhật bên ngoài có dòng chữ “AK2000” bên trong chứa các viên giấy hình trụ tròn vỏ màu đỏ, mỗi viên cao 3,3cm, đường kính ngoài 0,8cm có sợi dây nối từ trong thân ra gồm các viên đối xứng với nhau bên ngoài bọc giấy màu đỏ tạo thành một đoạn dạng dây dài 290cm đều là pháo nổ. Tổng khối lượng là 2,69kg.
- - 700 viên nhựa hình cầu, mỗi viên đường kính 2,7cm có sợi dây màu xanh dẫn bên trong thân ra đều là pháo nổ. Tổng khối lượng là 3,1kg.
Tổng khối lượng của toàn bộ pháo là 236,6kg.
Tại bản kết luận giám định số 38 ngày 15/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: 16 khối hộp hình chữ nhật, bên trong mỗi khối chứa 49 viên giấy hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên đường kính 2,3cm, cao 10 cm được nối với nhau bằng dân dẫn đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ. Tổng khối lượng là 25,7kg (Trong đó: 03 khối hộp có chữ “KS4-4911” chứa trong thùng giấy có khối lượng 4,7kg; 13 khối hộp có chữ “KS4-4911” chứa trong thùng xốp có khối lượng 21kg).
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an thành phố B (nay là Cơ quan điều tra Công an tỉnh L) đã thu giữ toàn bộ số pháo trên, tuy nhiên do không có kho bảo quản đúng quy định nên căn cứ khoản 3 Điều 160 BLTTHS nên đã ra Quyết định xử lý bằng hình thức tiêu hủy, quá trình tiêu hủy đã đối chiếu, kiểm đếm số lượng, chụp ảnh chụp hình và lập biên bản tiêu hủy đúng theo quy định. Hiện còn đang tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu đen gắn sim điện thoại số 0911.544.xxx và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6Z 5G màu đen gắn sim số 0986616362 của Trần Đình L, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12S202 màu xanh gắn sim số 0342316012 của Bùi Thị C.
Cáo trạng số: 81/CT-VKSBL ngày 22/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc truy tố Trần Đình L về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự; truy tố Bùi Thị C về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Đình L và Bùi Thị C phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Áp dụng điểm c khoản 3, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Đình L từ 08 năm đến 09 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo L từ 30.000.000đ đến 40.000.000đ.
- Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Thị C từ 15 đến 18 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo C từ 20.000.000đ đến 30.000.000đ.
Về vật chứng và biện pháp tư pháp:
- + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu đen gắn sim điện thoại số 0911.544.xxx, 01 điện thoại di động nhãn hiệu
OPPO Reno6Z 5G màu đen gắn sim số 0986616362 thu giữ của Trần Đình L và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12S202 màu xanh gắn sim số 0342316012 thu giữ của Bùi Thị C.
- + Buộc bị cáo Trần Đình L phải nộp số tiền thu lợi bất chính là 2.400.000₫.
Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Ông Nguyễn Đình T1 là người bào chữa cho bị cáo Trần Đình L trình bày lời bào chữa: Ông thống nhất với tội danh, khung hình phạt theo truy tố bị cáo L của Viện kiểm sát cũng như lời luận tội tại phiên tòa của Kiểm sát viên. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo rất thành khẩn khai báo giúp vụ án được giải quyết nhanh chóng; bị cáo có bố đẻ tham gia cách mạng, có nhiều cống hiến cho tổ quốc, có chú ruột là liệt S khi chưa lập gia đình nên hiện nay bị cáo L chính là người thờ cúng chú mình là liệt sỹ Trần Đình S; trong quá trình tạm giam đã tác động gia đình khắc phục hậu quả; hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây hậu quả lớn cho xã hội. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở mức 08 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B (nay là Công an tỉnh L), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ. Có đủ cơ sở kết luận:
Trần Đình L là tài xế xe tải, thường xuyên đi giao hàng tại các tỉnh lân cận và có gặp một người đàn ông chưa rõ lai lịch ở khu vực thị xã B, tỉnh Bình Phước có biệt danh “cậu Hai B” sử dụng tài khoản mạng xã hội zalo tên “Đồ Chơi”, người này giới thiệu có nguồn pháo hoa nổ, nếu L cần thì sẽ cung cấp cho L để bán kiếm lời vào dịp tết. Đến khoảng đầu tháng 6/2025 Trần Đình L sử dụng tài khoản Zalo tên “Trần Đình L” liên hệ với tài khoản Zalo tên “Đồ Chơi” để đặt mua pháo hoa nổ, sau đó người này đã giao cho L nhiều loại pháo khác nhau như pháo hoa nổ nhiều loại (09 viên, 49 viên, 138 viên, pháo hoa tầm cao dạng ống, pháo dây, pháo bi) để trong thùng giấy, bao tải, bịch nylon đen với tổng số tiền là 100.000.000đ. L đã trả trước cho người này số tiền 50.000.000đ, số còn lại hai bên thỏa thuận nếu L bán được sẽ thanh toán sau còn không bán được người này sẽ lên nhận lại pháo. Sau khi nhận được pháo, L mang về cất giấu vào gầm giường trong 02 phòng ngủ trong nhà L và cất trong 02 phòng ngủ trong nhà của ông Trần Đình V (bố của L, ông V thường xuyên vắng nhà) tại địa chỉ số E - P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Đến khoảng đầu tháng 01/2025 có 01 người gọi điện cho L liên hệ mua 18 hộp pháo hoa nổ loại 49 viên, sau đó L bỏ 18 hộp pháo vào 01 thùng xốp để giao cho người mua, tuy nhiên sau đó người này không mua nữa. Do đó L mang thùng xốp trên đến quán cà phê của Bùi Thị C ở địa chỉ D P, phường L, thành phố B là người quen của L và nhờ để ở đây, khi mang đến Lân chỉ nói là đồ linh tinh và phải đi giao hàng liên tỉnh nên nhờ để ở đây khi nào về sẽ lấy nên Bùi Thị C đồng ý. Sau đó vài ngày, bà C có gọi điện hỏi L thùng xốp chứa gì thì lúc này L thừa nhận là pháo hoa nổ và nhờ tiếp tục gửi ở quán cà phê của bà C khi nào về sẽ lấy thì bà C tiếp tục đồng ý. Đến ngày 06/01/2025 L được một người đàn ông sử dụng số điện thoại 0589.419.xxx liên hệ hỏi mua 02 hộp pháo hoa nổ loại 49 viên với số tiền 2.400.000₫ và người này đã thanh toán tiền cho L, lúc này L sử dụng tài khoản Messenger tên “Lanthao Tran Dinh Lan” gọi điện thoại qua ứng dụng messenger vào tài khoản Messenger tên “Cai Bui” của Bùi Thị C và nói C bỏ 02 hộp pháo vào một chiếc túi rồi mang sang để ở lề đường đối diện nhà C sẽ có người đến lấy pháo. Sau đó Bùi Thị C đã lấy 02 hộp pháo từ trong thùng xốp để trong nhà và thực hiện theo lời L nói, sau khi có người đến lấy pháo, C nhắn tin qua tài khoản Messenger cho L thông báo “Nó lấy rồi” và “M lấy tiền nó tớ không biết nhé 2 bánh' thì L trả lời lại “Ok chị”. Đến ngày 07/01/2025 người đàn ông sử dụng số điện thoại 0589.419.xxx tiếp tục liên hệ với L hỏi mua tiếp 03 hộp pháo hoa nổ loại 49 viên, hai bên thỏa thuận số tiền là 3.900.000đ, sau đó L tiếp tục liên hệ với C và nhờ giao pháo theo phương thức như trên cho người mua và lần này L nhờ C thu hộ số tiền 3.900.000đ. Bùi Thị C đồng ý, sau đó vào khoảng 11 giờ 15 phút Cài tiếp tục lấy 03 hộp pháo từ trong thùng xốp để trong nhà bỏ vào một thùng cac tông và mang qua bên đường để cho người mua đến lấy. Tuy nhiên khi đang mang pháo qua bên đường thì bị Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang.
Theo bản kết luận giám định số 37, 38 ngày 15/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh L thì tổng khối lượng pháo lậu mà Trần Đình L phải chịu trách nhiệm là 262,3 kg. Còn tổng khối lượng pháo lậu mà Bùi Thị C phải chịu trách nhiệm là 25,7 kg.
Trong khi bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện, mục đích của bị cáo L là để thu lợi bất chính, còn mục đích của bị cáo C là do nể nang.
Vì vậy, hành vi nêu trên của Trần Đình L đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự; hành vi của Bùi Thị C đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- - Nhân thân: Bị cáo Trần Đình L có nhân thân xấu, còn bị cáo Bùi Thị C có nhân thân tốt.
- - Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, bị cáo Trần Đình L có chú ruột là ông Trần Đình S là liệt sỹ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba và đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính là 2.400.000đ; bị cáo Bùi Thị C có bố đẻ là ông Bùi A Sở được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3, mẹ đẻ là bà Phạm Thị V1 được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng 2. Vì vậy, các bị cáo được áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về vai trò của các bị cáo: Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo Trần Đình L là người trực tiếp mua pháo về tàng trữ để bán lại kiếm lời, liên hệ với người mua, giao cho bị cáo Bùi Thị C 18 hộp pháo hoa loại 49 để giao cho người mua và thu tiền theo yêu cầu của bị cáo L. Vì vậy, bị cáo L có vai trò chính, còn bị cáo C là đồng phạm giúp sức.
[5] Về hình phạt chính: Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước trong sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm. Pháo nổ là mặt hàng cấm (trừ pháo hoa do Bộ Q sản xuất), do vậy tất cả hành vi sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ mặt hàng này sẽ bị xử lý hình sự khi đảm bảo yếu tố định lượng. Để đấu tranh hiệu quả với “nạn pháo lậu”, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, đảm bảo việc răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và nhằm tăng tính răn đe, cảnh báo, phòng ngừa chung trong xã hội.
- Đối với bị cáo Trần Đình L phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, có vai trò chính nên cần có mức án nghiêm khắc, nhất thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện tu dưỡng, rèn luyện thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Đối với bị cáo Bùi Thị C chỉ là đồng phạm giúp sức, có vai trò không đáng kể, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Vì vậy, thấy không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam mà cho bị cáo được hưởng án treo, chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Việc cho bị cáo hưởng án treo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và phù hợp với quy định của Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo trước khi phạm tội đều là người trưởng thành, có công việc tạo ra thu nhập ổn định, mục đích phạm tội để thu lợi bất chính. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
[7] Về vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an tỉnh L đã thu giữ toàn bộ số pháo trên nhưng do không có kho bảo quản đúng quy định nên căn cứ khoản 3
Điều 160 Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý bằng hình thức tiêu hủy, quá trình tiêu hủy đã đối chiếu, kiểm đếm số lượng, chụp ảnh chụp hình và lập biên bản tiêu hủy đúng theo quy định của pháp luật nên không đề cập đến.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu đen gắn sim điện thoại số 0911.544.xxx và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6Z 5G màu đen gắn sim số 0986616362 của Trần Đình L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12S202 màu xanh gắn sim số 0342316012 của Bùi Thị C. Xét thấy, đây là công cụ để các bị cáo giao dịch buôn bán pháo nổ nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 2.400.000đ mà bị cáo Trần Đình L đã tạm nộp để khắc phục hậu quả. Xét thấy, đây là khoản tiền bị cáo có được từ việc phạm tội (bán 02 hộp pháo) nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[8] Về các vấn đề khác:
- Đối với đối tượng có biệt danh “cậu Hai B” sử dụng tài khoản mạng xã hội zalo tên “Đồ Chơi” đã bán pháo cho Trần Đình L và đối tượng sử dụng số điện thoại 0589.419.xxx liên hệ với Trần Đình L mua 02 hộp pháo ngày 06/01/2025 và 03 hộp pháo ngày 07/01/2025 quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch của các đối tượng trên nên tách riêng và tiếp tục xác minh, xử lý sau là có căn cứ và đúng pháp luật.
- Đối với ông Trần Văn V2 (bố của Trần Đình L), bà Phạm Thị T (vợ của L), anh Trần Đình Đ (con của L) và ông Trần Văn K (chồng của bị cáo C) quá trình điều tra đã xác định được khi bị cáo L và bị cáo C thực hiện hành vi phạm tội, những người trên không biết, không có hành vi giúp sức cho L và C. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự của những người nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[9] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo L là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Trần Đình L và Bùi Thị C phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ điểm c khoản 3, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Đình L 08 (T3) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/01/2025.
Phạt bổ sung bị cáo Trần Đình L số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Bùi Thị C 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.
Phạt bổ sung bị cáo Bùi Thị C số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền 20.000.000₫ đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000883 ngày 23/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng (bị cáo cài đã nộp đủ).
Giao bị cáo Bùi Thị C cho UBND phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thi hành án thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
2. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
* Tịch thu sung Ngân sách nhà nước:
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12S202 màu xanh, số seri: 3041692570003VM, số Imei: 0865652058583891 gắn sim số 0342.316.012.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu đen, số máy MGJA3VN/A bên trong gắn sim số 0911.544.078.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6Z 5G màu đen, kiểu máy CPH2237 bên trong gắn sim số 0986.616.362.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/5/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc).
* Buộc bị cáo Trần Đình L phải nộp số tiền 2.400.000đ để sung ngân sách Nhà nước nhưng được trừ vào 2.400.000₫ đã nộp theo biên lai thu số 0000884 ngày 23/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Trần Đình L và Bùi Thị C, mỗi người phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ninh Khắc Phong |
9
Bản án số 84/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự (buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 84/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Đình L và đồng phạm phạm tội Buôn bán hàng cấm
