TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2025/HS-ST Ngày 21-3-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Huỳnh Văn Ái;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Thành Phương và bà Trần Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: ông Trần Hoàng Phúc-Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tùng-Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2025/TLST-HS, ngày 15 tháng 01 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2025/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Đặng Văn L, sinh năm 1990, tại tỉnh Tiền Giang. Nơi thường trú: ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nơi ở: phòng T4-nhà số A, đường H, Khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn S và bà Trần Thị T; có vợ và 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không có; bị tạm giữ ngày 26-7-2024 (tính theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường B, quận B lập lúc 13 giờ 30 phút ngày 26-7-2024), tạm giam ngày 05-8-2024 “có mặt”;
- Lê Dương T1, sinh năm 1994, tại tỉnh An Giang. Nơi thường trú: ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang; nơi ở: phòng trọ số A-nhà số B, đường M, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C (chết) và bà Lê Thị N; có vợ và 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không có; bị tạm giữ ngày 26-7-2024 (tính theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường B, quận B lập lúc 13 giờ 30 phút ngày 26-7-2024), tạm giam ngày 05-8-2024 “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 26/7/2024, Đặng Văn L rủ Lê Dương T1 mỗi người hùn 100.000 đồng để mua ma túy về sử dụng chung thì T1 đồng ý. Khi đó, L đưa cho T1 100.000 đồng rồi dùng xe môtô biển số 52M7-1801 của T1 điều khiển chở T1 chạy đến khu vực đường L, phường T, quận B cho T1 trực tiếp mua 01 gói ma túy đá của người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được gói ma túy, L chở T1 về phòng trọ số 1-nhà số A, H, Khu phố A, phường B, quận B của L thuê để ở thì T1 đưa gói ma túy này lại cho L cất giữ rồi T1 đi về nhà. Ngay sau khi T1 đi về, L chuẩn bị cho việc sử dụng ma túy bằng cách lấy cái ống thủy tinh có 01 đầu tròn cắm vào trong cái bình nhựa chứa nước, đổ hết gói ma túy đó vào cái ống thủy tinh và lấy thêm 01 cái quẹt gas dùng đốt lửa lên để hút rồi mang vào đặt lên cái kệ gỗ trong nhà vệ sinh. Lúc khoảng 12 giờ cùng ngày, T1 gọi điện thoại cho L hỏi “chuẩn bị xong chưa để đến sử dụng” thì L trả lời “xong rồi”. Sau đó, L mới vừa vào sử dụng xong 01 lượt đi ra ngoài thì T1 đến, L chỉ tay hướng vào nhà vệ sinh cho T1 biết đi vào sử dụng xong 01 lượt rồi ra ngoài; lúc này, L liền vào sử dụng tiếp lượt thứ 02 rồi đi ra ngoài thì T1 vào sử dụng xong lượt thứ 02 và vừa mới bước ra ngoài thì bị Tổ công tác-Đội Điều tra Tội phạm về Ma túy-Công an quận B kết hợp cùng với Công an phường B vào kiểm tra bắt giữ đưa tất cả đến Công an phường B để xử lý người có hành vi phạm tội quả tang. Sau khi tiếp nhận và lập hồ sơ ban đầu xong, Công an phường B đã chuyển cho Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền. Tại đây, L và T1 cùng khai nhận toàn bộ hành vi như vừa mới nêu trên. Vật chứng vụ án gồm: 01 cái bình nhựa đựng nước có gắn ống thủy tinh đầu tròn bên trong chứa tinh thể; 01 cái quẹt gas, 02 cái điện thoại di động và 01 chiếc xe mô tô biển số 52M7-1801. Còn theo kết luận giám định thì ống thủy tinh đầu tròn bên trong chứa tinh thể “là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0391g, loại Methamphetamine”. Như vậy, hành vi của L và T1 phải chịu trách nhiệm hình sự về “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015. Riêng đối với hành vi cất giữ số ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0391g, loại Methamphetamine chỉ nhằm mục đích để sử dụng và không có tiền án, tiền sự gì nên chưa đủ yếu tố cấu thành “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Đặng Văn L rủ Lê Dương T1 cùng khai nhận: phòng trọ số 1-nhà số A, H, Khu phố A, phường B, quận B là của bị cáo L thuê để ở. Lúc các bị cáo gặp nhau, bị cáo L rủ bị cáo T1 mỗi người hùn 100.000 đồng để mua ma túy về sử dụng chung thì bị cáo T1 đồng ý. Khi đó, bị cáo L đưa cho bị cáo T1 100.000 đồng rồi dùng xe của bị cáo T1 điều khiển chở bị cáo T1 đến khu vực đường L, phường T, quận B cho bị cáo T1 trực tiếp mua 01 gói ma túy đá của người tên đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 200.000 đồng. Đến khi L chở bị cáo T1 về phòng trọ của bị cáo L thì bị cáo T1 đưa gói ma túy đã mua lại cho bị cáo L cất giữ rồi bị cáo T1 đi về nhà. Lúc này, bị cáo L chuẩn bị cho việc sử dụng ma túy là lấy cái ống thủy tinh có 01 đầu tròn cắm vào trong cái bình nhựa chứa nước, đỗ hết gói ma túy đó vào cái ống thủy tinh và lấy thêm 01 cái quẹt gas dùng đốt lửa lên để hút rồi mang vào đặt lên cái kệ gỗ trong nhà vệ sinh. Xong, bị cáo T1 gọi điện thoại cho bị cáo L hỏi “chuẩn bị xong chưa để đến sử dụng” thì bị cáo L trả lời “xong rồi”. Sau đó, bị cáo L mới vừa vào sử dụng xong 01 lượt đi ra ngoài thì bị cáo T1 đến, bị cáo L chỉ tay hướng vào nhà vệ sinh cho bị cáo T1 biết đi vào sử dụng xong 01 lượt rồi đi ra ngoài; lúc này, bị cáo L liền vào sử dụng tiếp lượt thứ 02 rồi đi ra ngoài thì T1 vào sử dụng xong lượt thứ 02 và vừa mới bước ra ngoài thì bị Công an vào kiểm tra bắt giữ cùng với vật chứng nên nay các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không có ý kiến gì về hàm lượng ma túy đã giám định và việc giải quyết vật chứng.
Tại Cáo trạng số: 22/CT-VKSQ.BT, ngày 07 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Đặng Văn L và Lê Dương T1 ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử cùng về “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có ý kiến: các bị cáo Đặng Văn L và Lê Dương T1 đã có hành vi cùng mua gói ma túy mang về địa điểm do bị cáo L đang quản lý rồi chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy và trong lúc các bị cáo đang sử dụng ma túy chung với nhau thì bị C1 an vào bắt giữ. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất an ninh trật tự và đây là vụ án có đồng phạm nên cần phải xử các bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng với hành vi của từng bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 58 và 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt các bị cáo L và T1 mỗi người với mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù cùng về “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Còn về vật chứng, đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước gồm: 01 chiếc xe môtô biển số 52M7-1801 và 02 cái điện thoại di động; tiêu hủy gồm: 01 gói niêm phong có chứa ma túy sau giám định, 01 cái hộp quẹt gas và 01 cái bình nhựa.
Bị cáo không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố, còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra-Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các bị cáo Đặng Văn L và Lê Dương T1 tại phiên tòa hôm nay cho thấy: từ lúc 12 giờ ngày 26/7/2024, tại phòng trọ số 1-nhà số A, H, Khu phố A, phường B, quận B của bị cáo L thuê để ở. Các bị cáo đã cùng nhau có hành vi hùn mỗi người 100.000 đồng, cùng đi mua gói ma túy mang về địa điểm do bị cáo L đang quản lý, chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy như lấy cái ống thủy tinh có 01 đầu tròn cắm vào trong cái bình nhựa chứa nước, đổ hết gói ma túy đó vào cái ống thủy tinh và lấy thêm 01 cái quẹt gas dùng đốt lửa lên để hút rồi mang vào đặt lên cái kệ gỗ trong nhà vệ sinh rồi lúc các bị cáo đang sử dụng ma túy chung thì bị C1 an vào bắt quả tang. Theo Kết luận giám định số: 8943/KL-KTHS, ngày 02/8/2024 của Phòng K-Công an Thành phố H thì “01 gói được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Đặng Văn L, Lê Dương T1, Nguyễn Hoài A (người chứng kiến), Dương Quốc T2 (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường B, quận B; bên trong có 01 ống thủy tinh chứa tinh thể”, đã giám định “là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0391g, loại Methamphetamine”. Do đó, các bị cáo Đặng Văn L và Lê Dương T1 đã phạm “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang; nhận dạng, đối chất; biên bản, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra; vật chứng thu giữ được, biên bản niêm phong, mở niêm phong, kết luận giám định khối lượng ma túy...nên đã đủ chứng cứ buộc tội các bị cáo và một phần đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận. Riêng đối với phần đề nghị áp dụng chung một mức án cho cả 02 bị cáo là chưa thể hiện được sự phân hóa vai trò cao, thấp khác nhau của từng bị cáo đã gây ra trong vụ án có đồng phạm này nên cần phải xử bị cáo L với mức cao hơn thì mới phù hợp.
[4] Riêng đối với trường hợp các bị cáo đang sử dụng chưa hết số ma túy trong ống thủy tinh đã bị bắt giữ nên số còn lại được giám định “là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0391g, loại Methamphetamine” thì: do các bị cáo đều không ai có tiền án, tiền sự gì nên chưa đủ yếu tố cấu thành “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ. Còn đối với người đàn ông bán ma túy cho các bị cáo, do không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra còn đang tiếp tục truy xét cho đến khi nào phát hiện được sẽ xử lý sau; đối với anh Ngô Văn T3, tuy có cho bị cáo L thuê phòng trọ trên, nhưng do anh T3 không biết và cũng không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên anh T3 không bị xử lý gì là có cơ sở.
[5] Xét chất ma túy là loại chất kích thích do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán và tổ chức sử dụng. Các bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai và vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, mang tính chất liều lĩnh, xem thường pháp luật, không những gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương mà còn có thể là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Trong vụ án này, tuy có đồng phạm, nhưng chỉ giản đơn và sự cấu kết thực hiện tội phạm không chặt chẽ nên không được coi là “Có tổ chức”; còn về vai trò thì, bị cáo L có vai trò lớn hơn bị cáo D như rủ rê, sử dụng nơi bị cáo quản lý và tích cực chuẩn bị toàn bộ công cụ sử dụng ma túy nên cần phải xử các bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo đã gây ra theo quy định tại Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần được xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì, “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”; do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay cho thấy, các bị cáo đều không ai có điều kiện kinh tế nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về vật chứng: Đối với 01 chiếc xe môtô mang biển số 52M7-1801 (số máy: 1P52FMH-3-Y0252148, số khung: LV0PHHB5Y2012448) của bị cáo T1 dùng làm phương tiện mua ma túy và khai: xe do mua của người bạn tên H (không rõ lai lịch) và không có làm giấy tờ gì; còn qua kết quả xác minh: xe do anh Lý Thống Q đứng tên chủ sở hữu, nhưng thực tế anh Q không có cư trú tại địa chỉ ghi trong giấy xác nhận đăng ký xe nên không thể làm rõ được hiện hữu chủ của chiếc xe là ai; đồng thời, xe không có trong dữ liệu kho vật chứng và Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu, nhưng đến nay vẫn chưa có ai đến để giải quyết nên trường hợp này được xem là tài sản không tìm được chủ sở hữu; còn đối với 01 cái điện thoại di động màu trắng, số thuê bao 0965478521 (không rõ số IMEI) và 01 cái điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh, số thuê bao 0903053865 (không rõ số IMEI) của các bị cáo đều có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu 03 đồ vật trên để sung quỹ Nhà nước. Còn 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy sau giám định; bên ngoài có chữ ký của bị can Đặng Văn L, bị can Lê Dương T1, Nguyễn Hoài A (người chứng kiến), Dương Quốc T2 (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường B, quận B, Tp. là chất kích thích, Nhà nước cấm sử dụng; 01 cái hộp quẹt gas và 01 cái bình nhựa của các bị cáo dùng làm công cụ sử dụng ma túy nên cần tịch thu tất cả để tiêu hủy.
[8] Các bị cáo Đặng Văn L và Lê Dương T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ điều luật và xử phạt:
1.1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 58 và 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo Đặng Văn L 04 (bốn) năm tù về “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 26-7-2024.
1.2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 58 và 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo Lê Dương T1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 26-7-2024.
2. Về vật chứng: căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước gồm: 01 chiếc xe môtô mang biển số 52M7-1801 (số máy: 1P52FMH-3-Y0252148, số khung: LV0PHHB5Y2012448); 01 cái điện thoại di động màu trắng, số thuê bao 0965478521 (không rõ số IMEI) và 01 cái điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh, số thuê bao 0903053865 (không rõ số IMEI).
- Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy sau giám định; bên ngoài có chữ ký của bị can Đặng Văn L, bị can Lê Dương T1, Nguyễn Hoài A (người chứng kiến), Dương Quốc T2 (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường B, quận B, Tp .; 01 cái hộp quẹt gas và 01 cái bình nhựa.
(Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số NK25/131TV ngày 15/01/2025)
3. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo Đặng Văn L và Lê Dương T1 mỗi người phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Các bị cáo Đặng Văn L và Lê Dương T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Văn Ái |
Bản án số 84/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 84/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Đặng Văn L, Lê Dương T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
