TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 84/2025/HS-ST Ngày 10-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quang
Ông Nguyễn Minh Nam
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 và Thông báo về việc dời thời gian mở lại phiên tòa số 01/TB.TA ngày 27/3/2025 đối với các bị cáo:
Vũ Thị H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 14/5/1986 tại Đắk Lắk. Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố E, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn K (đã chết) và bà Trần Thị V (đã chết); chồng Trần Văn V1; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 19/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ. (Có mặt)
Chau K3, tên gọi khác: Bi Long; sinh ngày 25/10/2003 tại An Giang. Nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã C, huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Khmer ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chau Sóc K1 và bà Lê Thị H1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 19/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ. (Có mặt)
- Người làm chứng: Nguyễn Chí K2, sinh năm 2004. Địa chỉ: Tổ H, ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Thị H và Chau K3 có mối quan hệ là bạn bè, cả hai đều nghiện ma túy đá. Khoảng 21 giờ ngày 16/9/2024, H điều khiển xe mô tô biển số 60F2-351.05 đi đến khu vực ngã tư Vũng Tàu, thành phố B, tỉnh Đồng Nai tìm người bán ma túy để mua thì gặp được người thanh niên mà H biết mặt trước đó (không biết nhân thân, lai lịch) hỏi có ma túy bán không thì người này trả lời không có và giới thiệu cho H gặp Ú đang đứng ở gần đó ( không biết nhân thân, lai lịch), H hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy thì Ú đồng ý bán ma túy, H đưa tiền xong, Ú đưa lại cho H 01 gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, H điều khiển xe mô tô biển số 60F2-351.05 về phòng trọ ở ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, cất giấu vào giỏ xách đang treo trên tường. Từ ngày 16/9/2024 đến ngày 19/9/2024, H đã lấy gói ma túy mua được ra sử dụng nhiều lần và đã đưa ma túy cho K3 đi bán giúp được 03 lần, cụ thể:
Vào ngày 15/9/2024, K3 đang ở phòng trọ tại phường P, thành phố B thì Đ là bạn bè quen biết ngoài xã hội (không rõ nhân thân, lai lịch) điện thoại cho K3 qua ứng dụng Mesenger hỏi K3 biết chỗ nào bán ma túy đá không, K3 nói biết nên Đ nhờ mua giúp 200.000 đồng ma túy, K3 đồng ý rồi đến phòng trọ của H và nói có khách muốn mua 200.000 đồng tiền ma túy. H đồng ý, lấy từ trong túi quần ra 01 gói ma túy đá đưa cho K3. Sau đó, K3 điều khiển xe mô tô biển số 60F2-351.05 của H cầm gói ma túy trên đến gần khu vực cầu vượt đường V, xã B, huyện T bán ma túy cho Đ, K3 lấy 200.000 đồng tiền bán ma túy đem về đưa cho H.
Vào ngày 18/9/2024, Đ tiếp tục gặp và đưa cho K3 200.000 đồng nhờ mua ma túy giúp, K3 đồng ý cầm tiền và đến gặp H, nói có khách muốn mua 200.000 đồng tiền ma túy, H đồng ý, lấy từ trong túi quần ra 01 gói ma túy và nói bán với giá 170.000 đồng, còn 30.000 đồng H cho K3 đổ xăng. K3 đồng ý, cầm gói ma túy H đưa, rồi liên lạc qua Messenger cho Đ, hẹn giao ma túy ở khu vực đường ray xe lửa ấp P, xã B, huyện T thì Đ đồng ý. Khenl điều khiển xe mô tô biển số 60F2-351.05 của H cầm gói ma túy trên đến điểm hẹn giao cho Đ.
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 19/9/2024, K3 đang ở phòng trọ tại phường P, thành phố B thì Đ điện thoại cho K3 qua ứng dụng M hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, K3 đồng ý rồi đi đến phòng trọ gặp H, K3 nói có người hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy đá, nhưng H nói chỉ còn 01 gói ma túy có giá 100.000 đồng nên K3 đồng ý thì H lấy trong giỏ xách của H ra 01 gói ma túy đưa cho K3, K3 cầm gói ma túy rồi lấy 100.000 đồng của K3 nhét vào giỏ xách của H để trả tiền mua ma túy, K3 nhét gói ma túy vào trong bóp da, rồi nhét bóp da vào túi quần phía sau bên phải của K3 đang mặc, mục đích đem gói ma túy này bán lại cho Đ với giá 200.000 đồng (kiếm lời được 100.000 đồng), khi K3 chuẩn bị đi giao ma túy cho Đ thì lực lượng Công an vào kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật có liên quan.
Ngoài ra, H còn trực tiếp bán ma túy cho các đối tượng sau:
- Bán ma túy cho đối tượng thanh niên tên M1 (không rõ nhân thân, lai lịch) được 02 lần ở giáo xứ B, xã B, huyện T, cụ thể: Ngày 16/9/2024 bán cho M1 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng và ngày 19/9/2024 bán cho M1 01 gói ma túy giá 300.000 đồng. M1 sử dụng Zalo tên “Mập Mập” liên hệ qua Zalo của H tên “Thay đổi cuộc sống” để mua ma túy.
- Bán ma túy cho đối tượng nữ tên Q (không rõ nhân thân, lai lịch) được 02 lần ở giáo xứ B, xã B, huyện T, cụ thể: Vào ngày 16/9/2024 và ngày 17/9/2024 mỗi lần H bán cho Q 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Q sử dụng Zalo tên “Quế” liên hệ qua Zalo của H tên “Thay đổi cuộc sống” hỏi mua ma túy (bút lục: 48-91).
Tại Kết luận giám định số: 1879/KL-KTHS ngày 27/9/2024 của Phòng K5 - Công an tỉnh Đ, kết luận: Ngày 21/9/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số ma túy thu giữ nên trên. Tại bản kết luận giám định số: 1879/KL-KTHS ngày 27/9/2024 của phòng K5 Công an tỉnh Đ kết luận:
- Mẫu chất tinh thể màu trắng (mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,1242 gam, loại: Methamphetamine.
- Mẫu chất màu nâu bám dính trong nỏ thủy tinh (mẫu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.
Ngày 27/9/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Vũ Thị H và Chau K3 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” để điều tra theo quy định.
Vật chứng vụ án:
- 01 gói nylon có kích thước 01cm x 04cm, bên trong có chứa chất màu trắng được niêm phong vào 01 phong bì giấy (kí hiệu M1), ngoài phong bì có chữ ký của Chau K3, Vũ Thị H và dấu tròn màu đỏ của Công an xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai;
- 01 nỏ thủy tinh, bên trong có bám dính chất màu nâu được niêm phòng vào 01 phong bì giấy (kí hiệu M2), ngoài phong bì có chữ ký của Vũ Thị H và dấu tròn màu đỏ của Công an xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai;
- 01 điện thoại di động hiệu VIVO, gắn sim số 0974848319 (đã qua sử dụng) của Chau K3;
- 01 điện thoại di động hiệu VIVO, gắn sim số 0376318134, 0777382117 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Click màu trắng, biển số 60F2-351.05 (tất cả đã qua sử dụng) của Vũ Thị H;
- 01 chai nhựa và 01 ống hút nhựa (bút lục: 04-05)
Tại Cáo trạng số 58/CT-VKSTB ngày 12 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố Vũ Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b,c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, truy tố Chau K3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom rút một phần quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Vũ Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Vũ Thị H từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm tù.
- Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Chau K3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Châu K4 từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù
Về xử lý vật chứng:
- 01 phong bì niêm phong sau giám định số 1879/KL-KTHS ngày 27/9/2024 của Phòng K5 (PC09) Công an tỉnh Đ; 01 chai nhựa và 01 ống nhựa đã qua sử dụng đề nghị Tòa tuyên tịch thu tiêu hủy;
- 01 điện thoại di động hiệu VIVO, gắn sim số 0974848319; 01 điện thoại di động hiệu VIVO, gắn sim số 0376318134, 0777382117 (tất cả đã qua sử dụng) là vật chứng, công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, đề nghị Tòa tuyên tịch thu sung công;
- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Click màu trắng, biển số 60F2-351.05, số máy JF18E0204887, số khung RLHJF1808AY754280; kết quả tra cứu xe do bà Võ Thị Mỹ D, sinh năm 1980, HKTT: khu phố B, phường T, TP B, tỉnh Đồng Nai, đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký. Bà D cho biết vào năm 2021 bà đã bán chiếc xe trên cho người mua ngoài xã hội, nhưng không làm thủ tục sang tên, từ tháng 6/2024 H được người bạn tên L (không rõ nhân thân, lai lịch) đi làm phụ hồ cùng mua lại chiếc xe trên và tặng cho H làm phương tiện đi lại (xe có giấy đăng ký kèm theo), quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô biển số 60F2-351.05 là tài sản hợp pháp của H và H sử dụng làm phương tiện phạm tội, do đó đề nghị Tòa tuyên tịch thu sung công.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Các bị cáo không có ý kiến về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo. Các bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng hình sự:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Đối với sự vắng mặt của người làm chứng tại phiên toà: Người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà. Xét thấy, người làm chứng đã có lời khai ở Cơ quan điều tra và việc vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Nên căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo Vũ Thị H và Chau K3 có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, không có sự mâu thuẫn; phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định:
Vào lúc 20 giờ 35 phút ngày 19/9/2024 tại phòng trọ của Vũ Thị H ở ấp B, xã B, huyện T, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đ phối hợp với Công huyện T và Công an xã B bắt quả tang Chau K3 đang cất giấu 01 gói ma túy có khối lượng: 0,1242 gam, loại: Methamphetamine trong túi quần đang mặc để chuẩn bị bán cho đối tượng tên “ Đ” với giá 200.000 đồng (ma túy do H mới bán cho Khenl giá 100.000 đồng). Ngoài ra, trước đó vào các ngày 15/9/2024 và 18/9/2024 K3 đã 02 mua ma túy của H và bán lại cho Đ mỗi lần 200.000 đồng; H trực tiếp bán ma túy cho “Mập” 02 lần vào các ngày 16/9/2024 và 19/9/2024 mỗi lần từ 300.000 đến 500.000 đồng; bán cho Q 02 lần vào các ngày 16/9/2024 và 17/9/2024 mỗi lần 300.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Vũ Thị H và Chau K3 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố các bị cáo theo tội danh và điểm, khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của của các bị cáo rất nghiêm trọng, xâm phạm tới chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy. Xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về đấu tranh và loại bỏ ma túy ra khỏi cuộc sống xã hội và gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Việc mua bán trái phép chất ma túy là nguyên nhân dẫn đến những thiệt hại về tài sản, là nguồn lây lan nhiều căn bệnh nguy hiểm, là nguyên nhân gia tăng các loại tội phạm về hình sự.
Các bị cáo là người đã trưởng thành đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật, biết tác hại của ma túy đối với sức khoẻ bản thân và đối với xã hội, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Xét hành vi của từng bị cáo: Các bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” thuộc trường hợp đồng phạm nhưng ở mức độ giản đơn, bị cáo H là người trực tiếp mua ma túy bán lại cho K3 và thực hiện hành vi bán ma túy nhiều hơn Khenl nên mức án của bị cáo H cao hơn mức án của bị cáo K3.
Về nhân thân: Các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, không có tiền án tiền sự.
Do đó cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong phong bì được niêm phong sau giám định số 1879/KL-KTHS ngày 27/9/2024 của Phòng K5 (PC09) Công an tỉnh Đ; 01 chai nhựa và 01 ống nhựa đã qua sử dụng.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu VIVO, gắn sim số 0974848319; 01 điện thoại di động hiệu VIVO, gắn sim số 0376318134, 0777382117 (tất cả đã qua sử dụng) là vật chứng, công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.
Xe mô tô nhãn hiệu Honda Click màu trắng, biển số 60F2-351.05, số máy JF18E0204887, số khung RLHJF1808AY754280; kết quả tra cứu xe do bà Võ Thị Mỹ D, sinh năm 1980, HKTT: khu phố B, phường T, TP B, tỉnh Đồng Nai, đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký. Năm 2021 bà D đã bán chiếc xe trên cho người mua ngoài xã hội, nhưng không làm thủ tục sang tên, từ tháng 6/2024 người bạn tên L của bị cáo H (không rõ nhân thân, lai lịch) mua lại chiếc xe trên và tặng cho bị cáo H làm phương tiện đi lại, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô biển số 60F2-351.05 là tài sản hợp pháp của H và H sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[8] Về vấn đề khác: Đối với đối tượng có tên “Ú” là người bán ma túy cho H do không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào làm việc được có căn cứ sẽ xử lý sau.
[9] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị H và Chau K3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Vũ Thị H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn từ tính từ ngày 19/9/2024.
- Xử phạt bị cáo Chau K3 07 (bảy) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2024.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong phong bì được niêm phong sau giám định số 1879/KL-KTHS ngày 27/9/2024 của Phòng K5 (PC09) Công an tỉnh Đ; 01 chai nhựa và 01 ống nhựa đã qua sử dụng.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO, kèm theo sim có số seri 89840 48008 82327 3452 ; 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO, kèm theo 02 sim có số seri 8984 04800 03032 00179 và 8401 2302 1240 9099; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Click màu trắng, biển số 60F2-351.05, số máy JF18E0204887, số khung RLHJF1808AY754280.
Vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên bản việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom.
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vũ Thị H và Chau K3 mỗi người phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cáo các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Linh |
Bản án số 84/2025/HS-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 84/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị H và Châu K phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
