Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 84/2025/HS-ST

Ngày 19 - 6 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Khel.
Ông Nguyễn Phước.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Kiều Mị - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 85/2025/QĐXXST - HS ngày 06/6/2025 đối với bị cáo:

Tống Thanh P, sinh ngày: 30/9/2002 tại Sóc Trăng. Nơi thường trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Nơi ở: ấp T, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Thanh D và bà Trần Thị G; có vợ tên Đỗ Thị Kiều M, con có 01 người; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Vào ngày 15/6/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 06 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 17/9/2021, nhưng khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên được coi là không có án tích; Vào ngày 07/8/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 02 năm tù về “Tội trộm cắp tài sản”, bị cáo P đang chấp hành án; Bị cáo đang chấp hành trong vụ án khác (có mặt).

- Bị hại: Ông Phan Huỳnh Thanh H, sinh năm 2003. Nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ, ngày 09 tháng 4 năm 2024, Tống Thanh P điện thoại cho Phan Huỳnh Thanh H hẹn uống cà phê ở trong Khu dân cư M, Phường G, thành phố S thì H đồng ý. H điều khiển xe mô tô biển số 78C1-244.32 đến chỗ hẹn gặp P, tại đây H và P nói chuyện với nhau về việc bạn gái của H nhắn tin kêu P đừng rủ H đi chơi nữa. Trong lúc nói chuyện, Phú nãy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô biển số 78C1-244.32 của H nên P giả vờ nhờ H chở đi mua xăng cho vợ của P thì H đồng ý. H điều khiển xe mô tô biển số 78C1-244.32 chở P đi mua xăng trên đường Q, mua xăng xong P tiếp tục kêu H chở về nhà trọ để đưa xăng cho vợ của P. Khi H chở P đến đoạn đường vắng trên đường L, Khóm A, Phường G, thành phố S thì P kêu H dừng xe nên H dừng xe lại, tắt máy nhưng chìa khóa vẫn còn cắm trên ổ khóa, cả hai vẫn còn ngồi trên xe. P kêu H cho mượn xe để chạy vào nhà trọ đưa xăng cho vợ của P thì H không đồng ý, P nói “bây giờ mày xuống xe hay không”, H quay lại thì thấy P để hai tay vào trong túi áo khoác, do sợ P có hung khí nên H bước xuống xe đứng đối diện với P, tay trái vẫn còn cầm tay lái xe. Lúc này, P dùng tay trái đẩy mạnh vào giữa ngực của H nên H bị loạng choạng lùi về phía sau và vuột tay ra khỏi tay lái xe, đồng thời lúc này H bị đau ở ngực nên dùng tay ôm ngực thì P điều khiển xe chạy đi. Sau đó, P điều khiển xe mô tô chiếm đoạt được của H đến Ngã ba A thuộc xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng nhờ người bạn tên T (không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể) cầm giùm xe mô tô biển số 78C1-244.32 thì T đồng ý và dẫn P gặp Châu Thanh M1. Khi gặp, M1 hỏi “xe có giấy tờ không” thì P nói “có mà không mang theo, cầm đỡ 2.000.000 đồng vài ngày lại chuộc” thì M1 đồng ý. Sau khi cầm xe có tiền P tiêu xài hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐG ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố S, kết luận: 01 (một) mô tô biển số 78C1-244.32, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius Fi, màu đỏ đen, số máy 1FC3060426, số khung FC30EY060413, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 20%, với giá 4.200.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 92/CT-VKSTPST ngày 15/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Tống Thanh P về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của bị cáo Tống Thanh P và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo Tống Thanh P phạm tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.

- Về vật chứng:

Trả lại cho bị cáo: 01 (một) nón bảo hiểm loại nón sơn, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác dài tay, màu đen, có nón, phía trước áo có chữ Levents màu trắng, đã qua sử dụng.

Giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiếp tục điều tra làm rõ chủ sở hữu và xử lý theo quy định: 01 (một) xe mô tô biển số 78C1-244.32, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius Fi, màu đỏ đen, đã qua sử dụng.

Về án phí hình sự: buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo P thừa nhận hành vi phạm tội và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại ông Phan Huỳnh Thanh H vắng mặt và việc vắng mặt của đương sự nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Tống Thanh P thừa nhận nội dung cáo trạng phản ánh đúng hành vi của bị cáo, lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, nên vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 09 tháng 4 năm 2024, tại đường L, Khóm A, Phường G, thành phố S bị cáo Tống Thanh P đã có hành vi dùng lời nói đe dọa và dùng vũ lực là dùng tay trái đẩy mạnh vào giữa ngực của bị hại H làm bị hại bị đau ở ngực và bị loạng choạng lùi về phía sau thì bị cáo P nhanh chóng chiếm đoạt xe mô tô biển số 78C1-244.32, của bị hại H qua định giá có giá trị là 4.200.000 đồng.

[4] Bị cáo là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe và quyền sở hữu tài sản của người khác trái pháp luật nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Cướp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự, (khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm). Từ đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

  • [5.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • [5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • [5.3] Nhân thân: Vào ngày 15/6/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 06 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 17/9/2021. Tuy nhiên, tại bản án này, P phạm tội khi dưới 18 tuổi nên căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự thì P được coi là không có án tích. Vào ngày 07/8/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 02 năm tù về “Tội trộm cắp tài sản”, bị cáo P đang chấp hành án.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng là 01 (một) nón bảo hiểm loại nón sơn, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác dài tay, màu đen, có nón, phía trước áo có chữ Levents màu trắng, đã qua sử dụng không liên quan vụ án nên trả lại cho bị cáo.

Đối với vật chứng là 01 (một) xe mô tô biển số 78C1-244.32, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius Fi, màu đỏ đen, đã qua sử dụng do chưa xác định được chủ sở hữu nên giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiếp tục điều tra làm rõ chủ sở hữu và xử lý theo quy định.

[7] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

[9] Đối với ông Châu Thanh M1 là người cầm xe mô tô mà bị cáo P chiếm đoạt của bị hại nhưng ông M1 không biết, nên không xem xét xử lý.

[10] Đối với người tên T là người giới thiệu chỗ cầm xe cho bị cáo P nhưng do không biết họ tên và địa chỉ cụ thể nên không mời làm việc được, khi xác minh làm rõ sẽ xem xét xử lý.

[11] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội và các biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Tống Thanh P phạm tội “Cướp tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Tống Thanh P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành hai bản án là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
  4. Về vật chứng:
    • Trả lại cho bị cáo: 01 (một) nón bảo hiểm loại nón sơn, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác dài tay, màu đen, có nón, phía trước áo có chữ Levents màu trắng, đã qua sử dụng.
    • Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiếp tục điều tra làm rõ chủ sở hữu và xử lý theo quy định: 01 (một) xe mô tô biển số 78C1-244.32, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius Fi, màu đỏ đen, đã qua sử dụng.

    Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng.

  5. Về án phí: Buộc bị cáo Tống Thanh P 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - VKSND TP Sóc Trăng (1);
  • - Công an tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - Chi cục THADS TP Sóc Trăng (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1);
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng, hồ sơ THAHS (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về cướp tài sản

  • Số bản án: 84/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger