Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2025/HS-ST

Ngày 11/6/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Thượng – Phó giám đốc BHXH huyện Thái Thụy.

Bà Vũ Thị Thúy – Giáo viên Trường THCS xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Dương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 77/2025/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Đỗ Tuấn M (tên gọi khác: Không), sinh ngày 09/10/2007

Nơi cư trú: Thôn V, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Số căn cước công dân số: [...].

Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.

Con ông Đỗ Văn C, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1985.

Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 250/QĐ-XPHC ngày 07/12/2023 của Công an huyện T (phạt cảnh cáo) về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

- Bản án số 153/2024/HSST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm, về tội: “Gây rối trật tự công cộng” (chưa chấp hành xong thời gian thử thách của án treo nhưng khi bị kết án, bị cáo chưa đủ 18 tuổi, phạm tội nghiêm trọng nên không được coi là có án tích).

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 24/01/2025, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T, tỉnh Thái Bình. Trích xuất có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Trọng T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 23/02/2007.

Nơi cư trú: thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 10/12.

Số căn cước công dân: [...].

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.

Con ông Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1969.

Gia đình có 3 chị em, bị can là con thứ ba.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 259/QĐ-XPHC ngày 20/9/2023 của Công an huyện T, xử phạt 3.250.000 đồng về hành vi: “Cố ý gây thương tích” (đã nộp xong ngày 26/9/2023).

- Bản án số 153/2024/HSST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 01 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm 06 tháng, về tội: “Gây rối trật tự công cộng” (chưa chấp hành xong thời gian thử thách của án treo nhưng khi bị kết án, bị cáo chưa đủ 18 tuổi, phạm tội nghiêm trọng nên không được coi là có án tích).

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 24/01/2025, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T, tỉnh Thái Bình. Trích xuất có mặt tại phiên tòa.

3. Lê Tiến H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 07/5/2008.

Nơi cư trú: thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 10/12.

Số căn cước công dân số: [...].

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.

Con ông Lê Tiến S, sinh năm 1984 và bà Vũ Thị V, sinh năm 1987.

Gia đình có 3 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại triệu tập có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn Công M1 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 10/01/2007

Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 9/12.

Số căn cước công dân số: [...].

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.

Con ông Nguyễn Công P, sinh năm 1981 và bà Bùi Thị H1, sinh năm 1983.

Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 24/01/2025 đến ngày 26/02/2025 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại triệu tập có mặt tại phiên tòa.

5. Giang Quốc T2 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 05/3/2007

Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12.

Số căn cước công dân số: [...].

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.

Con ông Giang Văn T3, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1984.

Gia đình có 3 chị em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 57/2024/HSPT ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm, về tội: “Gây rối trật tự công cộng” (chưa chấp hành xong thời gian thử thách của án treo nhưng khi bị kết án, bị cáo chưa đủ 18 tuổi, phạm tội nghiêm trọng nên không được coi là có án tích).

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 24/01/2025, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T, tỉnh Thái Bình. Trích xuất có mặt tại phiên tòa.

6. Nguyễn Trọng Nam S1 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 06/9/2007

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12.

Số căn cước công dân số: [...].

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.

Con ông Nguyễn Trọng H2, sinh năm 1976 và bà Tạ Thị V1, sinh năm 1982.

Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 153/2024/HSST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 1 năm 6 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 3 năm, về tội: “Gây rối trật tự công cộng” (chưa chấp hành xong thời gian thử thách của án treo nhưng khi bị kết án, bị cáo chưa đủ 18 tuổi, phạm tội nghiêm trọng nên không được coi là có án tích).

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 24/01/2025, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T, tỉnh Thái Bình. Trích xuất có mặt tại phiên tòa.

7. Trần Viết Đ (tên gọi khác: Không), sinh ngày 24/01/2007

Nơi cư trú: thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 12/12.

Số căn cước công dân số: [...].

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.

Con Trần Viết T4, sinh năm 1975 và bà Đinh Thị L, sinh năm 1978.

Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại triệu tập có mặt tại phiên tòa.

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đỗ Tuấn M: Ông Đỗ Văn C, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1985 – Địa chỉ: Thôn V, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình. (có mặt)

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Trọng T: Ông Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1969 – Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. (có mặt)

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Tiến H: Ông Lê Tiến S, sinh năm 1984 và bà Vũ Thị V, sinh năm 1987 – Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình. (có mặt)

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Giang Quốc T2: Ông Giang Văn T3, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1984 – Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình. (có mặt)

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Trọng Nam S1: Ông Nguyễn Trọng H2, sinh năm 1976 và bà Tạ Thị V1, sinh năm 1982 – Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. (có mặt)

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Viết Đ: Ông Trần Viết T4, sinh năm 1975 và bà Đinh Thị L, sinh năm 1978 – Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình. (có mặt)

* Người bào chữa cho các bị cáo Đỗ Tuấn M, Nguyễn Trọng T, Lê Tiến H, Giang Quốc T2, Nguyễn Trọng Nam S1: Bà Nguyễn Thị Bích T5, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1987 là Trợ giúp viên – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (có mặt)

* Đại diện Đoàn thanh niên xã M: Ông Lê Tiến T6 - Phó bí thư Đoàn thanh niên (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Đại diện Đoàn thanh niên xã T: Ông Phạm Thế A – Bí thư Đoàn thanh niên (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người làm chứng:

1. Chị Phạm Thị T7, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

2. Chị Nguyễn Ngọc L1, sinh năm 2007 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn N, xã D, huyện T, Thái Bình.

3. Chị Đặng Quỳnh C1, sinh năm 2007 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, Thái Bình.

4. Chị Bùi Thị Thanh H4, sinh năm 2007 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 19/01/2025, Nguyễn Trọng T điều khiển xe máy điện gắn biển kiểm soát 17MĐ6-11492 chở Nguyễn Công M1 và Nguyễn Trọng Nam S1 di chuyển trên trục đường C thị trấn D. Khi đến trước cửa quán ăn “Bò BUBU” thì nhìn thấy nhóm của Đỗ Tuấn M, Giang Quốc T2, Trần Viết Đ, và Lê Tiến H cùng một số người dân đang đứng trên vỉa hè trước cửa quán ăn. T nói với S1 và Công M1: “Xem bọn này là ai?” rồi điều khiển xe quay lại. Đỗ Tuấn M cho rằng nhóm của T nhìn đểu, thách thức mình nên nhặt 2 viên gạch vỡ màu đỏ trên vỉa hè cầm trên tay chạy bộ đuổi theo nhóm T để đánh. T dừng xe, cùng với S1 và Công M1 xuống xe, đứng cách Tuấn M khoảng 2m. Tuấn M nói với nhóm của T: “Sao, sao, sao?” đồng thời tay phải cầm gạch ném T. T giơ tay phải lên đỡ, viên gạch đập trúng, làm rách da ở mu bàn tay phải. Tuấn M bỏ chạy về phía quán ăn “Bò BUBU” và vứt viên gạch còn lại xuống đường. T, S1 chạy phía trước, Công M1 chạy phía sau nhặt viên gạch cùng đuổi theo để đánh Tuấn M. Khi đến trước cửa quán ăn “Bò BUBU”, T đuổi kịp Tuấn M, tay phải T cầm chìa khóa xe máy điện kẹp giữa hai ngón tay, đầu của chìa khóa bằng kim loại nhô ra ngoài đấm nhiều nhát vào đầu Tuấn M, làm rách da, chảy máu. Tuấn M bị đau, ngồi xuống, dùng 2 tay ôm đầu. Thấy Tuấn M bị đánh, Đ, H và T2 chạy đến, dùng tay đánh nhau với T. T cúi xuống, giơ tay về phía sau định nhặt 1 viên gạch vỡ màu đỏ trên đường thì Tuấn M chạy đến tranh nhặt viên gạch này; T lùi lại thì trúng người Tuấn M. Lúc này Tuấn M đang trong tư thế nhặt viên gạch đứng lên, va vào T, làm T bị hất ngã ra đường. Tuấn M cầm viên gạch trên tay phải ném T nhưng không trúng. Đ dùng tay phải đấm vào đầu T nhưng T tránh được. T tiến đến, dùng tay phải đấm vào đầu Tuấn M nhưng Tuấn M tránh được. Khi S1 và Công M1 đến, S1 định xông vào đánh Tuấn M thì bị T2 cản lại, cả hai giằng co nhau. Công Minh cầm viên gạch trên tay trái, tay phải đấm nhiều nhát vào đầu và lưng T2. Thấy T2 bị đánh, Đ đến kéo S1 ra thì bị S1 dùng tay phải đấm nhưng Đ tránh và giữ được tay S1. Công Minh đứng phía sau cầm viên gạch trên tay phải đánh Đ nhưng không trúng, Đ vùng bỏ chạy ra chỗ khác. H nhặt ở mặt đường, cạnh vỉa hè 1 viên gạch vỡ màu đỏ định dùng để đánh lại nhóm của T thì bị T chạy đến dùng tay phải đấm vào đầu. H cầm gạch đánh trả nhưng bị T cầm tay kéo, làm cả 2 ngã ra đường, viên gạch trong tay H văng xuống. Thấy T và H giằng co, vật lộn nhau, T2 đến túm tóc, ôm cổ T, kéo ra ngoài khoảng 2 mét. S1 đến dùng tay phải đấm 1 nhát vào má trái của H. Thấy H bị S1 đánh, T2 nhặt 1 viên gạch vỡ màu đỏ ở trên đường định đánh S1 nhưng được mọi người can ngăn. H đi vào trong quán ăn “Bò BUBU” lấy 1 thanh kim loại (dụng cụ dùng để gắp than nướng) ra để đánh nhau tiếp nhưng được nhân viên quán ăn và người dân xung quanh can ngăn nên cả hai nhóm dừng lại, T chở S1 và Công M1 đi về nhà (sự việc kết thúc khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày).

Hậu quả: Đỗ Tuấn M bị thương vùng đỉnh đầu và vùng chẩm thái dương trái, điều trị tại Trạm y tế xã M, huyện T. Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 33/KLTTCT-TTPY ngày 07/02/2025 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận đối với thương tích của Đỗ Tuấn M: “Vùng đỉnh đầu có vết thương nhỏ chưa được cắt chỉ, vùng chẩm thái dương trái có vết thương nhỏ chưa cắt chỉ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 2%”.

Nguyễn Trọng T bị thương tích mu bàn tay phải, không phải điều trị ở cơ sở y tế nào. Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 33/KLTTCT-TTPY ngày 07/02/2025 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận đối với thương tích của Nguyễn Trọng T: “Mu bàn tay phải có 2 vết thương đang liền sẹo: vết thứ nhất vết thương nhỏ; vết thứ hai vết thương nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 2%”.

Đỗ Tuấn M và Nguyễn Trọng T tự xác định đều có một phần lỗi, thương tích nhẹ, điều trị ổn định, ngày 16/4/2025 cả hai có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho những người gây thương tích cho mình và không yêu cầu bồi thường dân sự. Các bị cáo khác không bị thương tích và không phải điều trị tại cơ sở y tế nào.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Cáo trạng số 87/CT-VKSTT ngày 21/5/2025 đã truy tố các bị Đỗ Tuấn M, Nguyễn Trọng T, Lê Tiến H, Nguyễn Công M1 và Giang Quốc T2 về tội: “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Trọng Nam S1 và Trần Viết Đ về tội: “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về áp dụng điều luật và hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 17; Điều 91; Điều 98; Điều 101; Điều 38 của Bộ luật Hình sự và Điều 12; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên, xử phạt:

  • + Bị cáo Đỗ Tuấn M từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 24/01/2025. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt với Bản án số 153/2024/HSST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội: “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho 02 bản án từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 24/01/2025.
  • + Bị cáo Nguyễn Trọng T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 24/01/2025. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt với Bản án số 153/2024/HSST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội: “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho 02 bản án từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 24/01/2025.
  • + Bị cáo Giang Quốc T2 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 24/01/2025. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt với Bản án số 57/2024/HSPT ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội: “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho 02 bản án từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 24/01/2025.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 17; Điều 38; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Công M1 từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm đến 04 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 11/6/2025.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 17; Điều 91; Điều 98; Điều 101; Điều 38; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Điều 12; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Lê Tiến H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 11/6/2025.

- Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 17; Điều 91; Điều 98; Điều 101; Điều 38 của Bộ luật Hình sự và Điều 12; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Nam S1 từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 24/01/2025. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt với Bản án số 153/2024/HSST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội: “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho 02 bản án từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 24/01/2025.

- Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 17; Điều 91; Điều 98; Điều 101; Điều 38; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Điều 12; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Trần Viết Đ từ 06 tháng 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 11/6/2025.

Giao bị cáo Nguyễn Công M1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao các bị cáo Lê Tiến H và Trấn Viết Đ1 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Ngoài ra, còn đề nghị Hội đồng xét xử xử lý về vật chứng và án phí của vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo Đỗ Tuấn M, Nguyễn Trọng T, Lê Tiến H, Nguyễn Công M1, Giang Quốc T2, Nguyễn Trọng Nam S1 và Trần Viết Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Tại phần tranh luận: Các bị cáo Đỗ Tuấn M, Nguyễn Trọng T, Lê Tiến H, Nguyễn Công M1, Giang Quốc T2, Nguyễn Trọng Nam S1 và Trần Viết Đ không có ý kiến tranh luận với nhau và với đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho các bị cáo Đỗ Tuấn M, Nguyễn Trọng T, Lê Tiến H, Giang Quốc T2, Nguyễn Trọng Nam S1 và Trần Viết Đ trình bày: Nhất trí với ý Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố các bị cáo về tội: “Gây rối trật tự công cộng” và phần đề nghị áp dụng điều luật. Tuy nhiên, về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi phạm tội các bị cáo đều là người dưới 18 tuổi, nhận thực pháp luật còn hạn chế, tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định có lợi của Bộ luật Hình sự, Luật tư pháp người chưa thành niên 2024 để áp dụng mức hình phạt thấp nhất cho các bị cáo để các bị cáo có thời gian cải tạo, giáo dục và có điều kiện tiếp tục tham gia học ở các trường các bị cáo đang theo học.

Những người đại diện hợp pháp cho các bị cáo đều xác định các bị cáo đã vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Các bị cáo Đỗ Tuấn M, Nguyễn Trọng T, Lê Tiến H, Nguyễn Công M1, Giang Quốc T2, Nguyễn Trọng Nam S1 và Trần Viết Đ nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện T; Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo Đỗ Tuấn M, Nguyễn Trọng T, Lê Tiến H, Nguyễn Công M1, Giang Quốc T2, Nguyễn Trọng Nam S1 và Trần Viết Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã mô tả. Phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Công an huyện T lập hồi 14 giờ ngày 22/01/2025 của anh Trần Ngọc T8, sinh năm 2006, trú tại tổ dân phố N, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình; Báo cáo của Ủy ban nhân dân thị trấn D ngày 23/01/2025 về vụ việc đánh nhau, gây rối, đề nghị xử lý nghiêm; Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 22/01/2025; Dữ liệu điện tử: “Ngày 22/01/2025, anh Trần Ngọc T8 giao nộp 1 đĩa DVD-R SONY bên trong chứa 01 tệp video, nội dung liên quan đến diễn biến nội dung sự việc xảy ra được anh T8 quay lại bằng điện thoại di động”; Kết luận giám định số 244/KL-KTHS ngày 25/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tập tin video gửi giám định. Hình ảnh, diễn biến, trong tập tin video được trích xuất, mô tả trong Phụ lục kèm theo”; Lời khai của người làm chứng chị Phạm Thị T7, chị Nguyễn Ngọc L1, chị Đặng Quỳnh C1, chị Bùi Thị Thanh H4 cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[2.1] Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 22 giờ đến 22 giờ 15 phút ngày 19/01/2025, tại trục đường C, thuộc địa phận tổ dân phố B, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình (trước cửa quán ăn “Bò BUBU”), do mâu thuẫn bộc phát giữa 2 nhóm thanh niên dẫn đến xô xát, cãi, chửi, hò hét, dùng, tay chân, hung khí (gạch, chìa khóa xe) đuổi đánh nhau, giữa nhóm của Nguyễn Trọng T, Nguyễn Công M1, Nguyễn Trọng Nam S1 với nhóm của Đỗ Tuấn M, Lê Tiến H, Giang Quốc T2, Trần Viết Đ. Hành vi của các bị cáo gây hỗn loạn trên trục đường giao thông, có nhiều người qua lại và khu vực dân cư sinh sống hai bên đường, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Vì vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của các bị cáo Đỗ Tuấn M, Nguyễn Trọng T, Lê Tiến H, Nguyễn Công M1, Giang Quốc T2 phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Trọng Nam S1 và Trần Viết Đ phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

“Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng

1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách...”.

[2.2] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo Đỗ Tuấn M, Nguyễn Trọng T, Lê Tiến H, Nguyễn Công M1, Giang Quốc T2, Nguyễn Trọng Nam S1 và Trần Viết Đ là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự công cộng. Ngoài ra, hành vi của các bị cáo gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Chính vì vậy cần phải xét xử các bị cáo bằng pháp luật hình sự để cải tạo, giáo dục các bị cáo, đồng thời là bài học răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[2.3] Khi xem xét, cân nhắc áp dụng hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần xem xét đến vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ:

- Về vai trò: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành, trong đó bị cáo T, Tuấn M là người khởi xướng, vai trò tích cực hơn nên giữ vai trò đầu; các bị cáo Công M1, H, T2 giữ vai trò thứ hai, các bị cáo đã sử dụng hung khí (gạch, chìa khóa xe) đánh nhau nên phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; Đối với các bị cáo S1, Đ giữ vai trò cuối cùng chỉ sử dụng tay, chân đánh nhau, không biết các đồng phạm khác sử dụng hung khí nên phải chịu trách nhiệm hình sự về theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về các tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Trần Viết Đ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Trần Viết Đ có ông ngoại được truy tặng Huy chương chiến sỹ giải phóng và là thương binh hạng 2/4; bị cáo Nguyễn Trọng Nam S1 có ông ngoại được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì; Bị cáo Công Minh được UBND xã xác nhận tại địa phương bị cáo và gia đình chấp hành pháp luật nghiêm chỉnh; Bị cáo Lê Tiến H có người thân có công với cách mạng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về áp dụng hình phạt thấy rằng: Các bị cáo Đỗ Tuấn M, Nguyễn Trọng T, Lê Tiến H, Giang Quốc T2, Nguyễn Trọng Nam S1 và Trần Viết Đ khi phạm tội các bị cáo đều chưa đủ 18 tuổi nên việc nhận thức pháp luật còn hạn chế. Tuy nhiên, các bị cáo Tuấn M, T, T2 và S1 có nhân thân xấu đã đã bị xét xử về hành vi gây rối trật tự công cộng, bị cáo Tuấn M, bị cáo T đã bị xử phạt hành chính nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, coi thường pháp luật vì vậy cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục các bị cáo như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy là phù hợp. Đối với các bị cáo Nguyễn Công M1 khi phạm tội vừa đủ 18 tuổi nên việc nhận thức cũng còn hạn chế, các bị cáo Công M1, H và Đ có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có xác nhận của chính quyền địa phương về việc gia đình và các bị cáo chấp hành pháp luật tốt nên không cần áp dụng hình tù có thời hạn mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo tại địa phương cũng đủ răn đe, giáo dục các bị cáo như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy là phù hợp.

[4] Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 3 mảnh gạch vỡ màu đỏ có lỗ tròn đường kính 2,5cm, kích thước lần lượt là (7,5x8,5)cm và (8,5x5,5)cm và (11,5x7)cm; 1 chìa khóa xe máy điện kích thước (7,2x2,4)cm, phần đầu chìa khóa bằng kim loại đã han gỉ, kích thước (3,5x0,9)cm, phần bọc nhựa màu đen, kích thước (3,5x2,4)cm do các bị cáo Đỗ Tuấn M, Nguyễn Trọng T, Lê Tiến H giao nộp ngày 23/01/2025 cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 1 thanh kim loại (dụng cụ dùng để gắp than nướng) do bị cáo Lê Tiến H lấy trong quán ăn “Bò BUBU”, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã tiến hành truy tìm nhưng không quản lý được.

[5] Trong vụ án này: Các bị cáo Đỗ Tuấn M và Nguyễn Trọng T dùng hung khí gây thương tích lẫn cho nhau, mỗi người bị tổn hại 02% sức khỏe, thuộc trường hợp chỉ khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại. Do các bên không yêu cầu khởi tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã chuyển hồ sơ đến Phòng K Công an tỉnh T ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính là đúng quy định.

[4] Về án phí: Các bị cáo Đỗ Tuấn M, Nguyễn Trọng T, Giang Quốc T2, Nguyễn Công M1, Lê Tiến H, Nguyễn Trọng Nam S1 và Trần Viết Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Quyền kháng cáo: Các bị cáo Đỗ Tuấn M, Nguyễn Trọng T, Giang Quốc T2, Nguyễn Công M1, Lê Tiến H, Nguyễn Trọng Nam S1 và Trần Viết Đ; Đại diện hợp pháp của các bị cáo Đỗ Tuấn M, Nguyễn Trọng T, Giang Quốc T2, Lê Tiến H, Nguyễn Trọng Nam S1, Trần Viết Đ và người bào chữa cho các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Tuấn M, Nguyễn Trọng T, Giang Quốc T2, Nguyễn Công M1, Lê Tiến H, Nguyễn Trọng Nam S1 và Trần Viết Đ phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Áp dụng pháp luật và hình phạt:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 17; Điều 91; Điều 98; Điều 101; Điều 38 của Bộ luật Hình sự và Điều 12; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên, xử phạt:

  • + Bị cáo Đỗ Tuấn M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 24/01/2025. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt với Bản án số 153/2024/HSST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội: “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho 02 bản án 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 24/01/2025.
  • + Bị cáo Nguyễn Trọng T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 24/01/2025. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt với Bản án số 153/2024/HSST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội: “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho 02 bản án 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 24/01/2025.
  • + Bị cáo Giang Quốc T2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 24/01/2025. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt với Bản án số 57/2024/HSPT ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội: “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho 02 bản án 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 24/01/2025.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 17; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Công M1 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 11/6/2025.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 17; Điều 91; Điều 98; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Điều 12; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Lê Tiến H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 11/6/2025.

- Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 17; Điều 91; Điều 98; Điều 101; Điều 38 của Bộ luật Hình sự và Điều 12; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Nam S1 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 24/01/2025. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt với Bản án số 153/2024/HSST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội: “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho 02 bản án 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 24/01/2025.

- Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 17; Điều 91; Điều 98; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Điều 12; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Trần Viết Đ 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 11/6/2025.

Giao bị cáo Nguyễn Công M1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao các bị cáo Lê Tiến H và Trấn Viết Đ1 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Đối với các bị cáo được hưởng án treo: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 03 mảnh gạch vỡ màu đỏ có lỗ tròn đường kính 2,5cm, kích thước lần lượt là (7,5x8,5)cm và (8,5x5,5)cm và (11,5x7)cm; 1 chìa khóa xe máy điện kích thước (7,2x2,4)cm, phần đầu chìa khóa bằng kim loại đã han gỉ, kích thước (3,5x0,9)cm, phần bọc nhựa màu đen, kích thước (3,5x2,4)cm có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy ngày 21/5/2025.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Đỗ Tuấn M, Nguyễn Trọng T, Lê Tiến H, Nguyễn Công M1, Giang Quốc T2, Nguyễn Trọng Nam S1 và Trần Viết Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo Đỗ Tuấn M, Nguyễn Trọng T, Giang Quốc T2, Nguyễn Công M1, Lê Tiến H, Nguyễn Trọng Nam S1 và Trần Viết Đ; Đại diện hợp pháp của các bị cáo Đỗ Tuấn M, Nguyễn Trọng T, Giang Quốc T2, Lê Tiến H, Nguyễn Trọng Nam S1, Trần Viết Đ và người bào chữa cho các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/6/2025).

Nơi nhân:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Thái Thụy;
  • - Chi cục THADS huyện Thái Thụy;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ; Phòng CSTHAHS và HTTP Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Uỷ ban nhân dân xã Thụy Hải;
  • - UBND xã Mỹ Lộc;
  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Văn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2025/HS-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 84/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Tuấn M và ĐP
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger