Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2025/HS-PT

Ngày: 19 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Long.

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Anh Đào;

Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thái Ngọc Nhật - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thứ - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 322/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Ngô Văn K cùng đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo Ngô Văn K, Trần Công Đ, Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị Thúy S, Dương Trương N1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2024/HS-ST ngày 06 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Ngô Văn K, sinh năm 1999 tại: Quảng Nam; Nơi cư trú: Khối G, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Ngô Văn K1, họ và tên mẹ: Lê Thị L1; bị cáo là con đầu trong gia đình có 02 anh em, bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không;

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/10/2023, đến ngày 18/01/2024 thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Trần Công Đ, sinh năm 1997 tại: Quảng NamNơi cư trú: Tổ B, thôn B, xã C, thành phố H,tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Trần Công B, họ và tên mẹ: Lưu Thị N; bị cáo là con út trong gia đình có 03 anh em, bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/10/2023, đến ngày 30/10/2023 thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

  3. Nguyễn Thị Mỹ L; sinh 1996, tại: Quảng Nam; Nơi cư trú: Tổ B, khối N, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Nguyễn H, họ và tên mẹ: Trần Thị B1; bị cáo là con thứ tám trong gia đình có 09 chị em, bị cáo có chồng tên Nguyễn Văn H1, có 02 con; con lớn sinh năm: 2015, con nhỏ sinh năm: 2019; Tiền án, tiền sự: không;

    Bị cáo đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

  4. Nguyễn Thị Thúy S; sinh năm 1995, tại: Quảng Nam; Nơi cư trú: Tổ A, khối A, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Nguyễn Chát, họ và tên mẹ: Trần Thị P; bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 03 chị em, bị cáo có chồng tên Trần Hoàng A, có 02 con; con lớn sinh năm: 2019, con nhỏ sinh năm: 2021; Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân: Năm 2015 bị công an phường T, thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; năm 2016 bị công an phường T, thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”.

    Bị cáo đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

  5. Dương Trương N1, sinh năm 1989, tại: Quảng Nam; Nơi cư trú: Tổ B, thôn B, xã C, thành phố H,tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Dương Hữu B2, họ và tên mẹ: Trương Thị L2; bị cáo là con đầu trong gia đình có 03 anh em, bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: không

    Tiền án: Năm 2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt số tiền 40.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” (Ngày 05/12/2023 bị cáo mới nộp phạt)

    Bị cáo đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Về cách thức đánh bạc, tổ chức đánh bạc bằng hình thức số đề như sau:

Ngô Văn K sử dụng điện thoại di động để nhận tin nhắn tịch đề từ các người chơi, K sẽ chi trả hoa hồng bằng 10% tổng số tiền chuyển tịch đề. Sau khi tổng hợp các tịch đề, K chuyển một phần tịch đề cho "đầu trên" để hưởng hoa hồng bằng 10% tổng số tiền chuyển tịch đề, giữ phần tịch đề còn lại để tự chung chi riêng. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết, K dựa vào kết quả này và tính kết quả thắng thua của từng người chơi, sau đó thống kê số tiền đánh bạc, số tiền trúng thưởng, con số trúng thưởng, số tiền thắng thua của từng người chơi vào một cuốn vở học sinh để lưu trữ, tính toán.

Các đối tượng Trần Công Đ, Nguyễn Thị Mỹ L là "đầu dưới" của Ngô Văn K, có cách thức đánh bạc, tổ chức đánh bạc tương tự Ngô Văn K. Riêng đối với Lê Quang H2 thì Ngô Văn K thỏa thuận hàng ngày H2 sẽ nhận tịch đề từ các người chơi mua số đề đài miền B, sau đó H2 gọi điện thoại hoặc nhắn tin để chuyển tịch đề cho K, K sẽ trả cho H2 hoa hồng bằng 10% tổng số tiền chuyển tịch đề, còn số tiền thắng thua của phần tịch đề thì cả hai chia đôi để hưởng lợi hoặc chung chi.

Dương Trương Nghĩa là người chơi, đánh bạc với Ngô Văn K và Trần Công Đ. Đồng thời, Trần Công Đ cũng đánh bạc với Dương Trương N1 để thu lợi bất chính. Khi đánh bạc, Dương Trương N1 được hưởng hoa hồng 10% tổng số tiền đánh bạc từ Ngô Văn K và Trần Công Đ, Trần Công Đ cũng được nhận hoa hồng 10% tổng số tiền đánh bạc từ Dương Trương Nghĩa .

Nguyễn Thị Thúy S là người chơi, đánh bạc với Ngô Văn K. Đồng thời, Nguyễn Thị Thúy S cũng nhận lại tịch đề hình thức bao lô từ Ngô Văn K. Cả hai thỏa thuận sẽ chi trả lẫn nhau số tiền hoa hồng bằng 10% tổng số tiền đánh bạc.

Các đối tượng dựa vào kết quả xổ số kiến thiết của các tỉnh, thành phố miền N, miền T và miền B trong ngày để tính thắng thua. Cách thức chơi số đề và tỉ lệ thắng thua như sau:

  • Người chơi chọn số tự nhiên có hai chữ số từ 00 đến 99 để cược cho tất cả các giải, gọi là đánh bao lô 2 số, nếu trúng sẽ thắng số tiền với tỉ lệ 1:5,05 (đài miền N và miền T) hoặc 1:3,37 (đài miền B);
  • Người chơi chọn số tự nhiên có ba chữ số từ 000 đến 999 để cược cho tất cả các giải trừ giải tám, gọi là đánh bao lô 3 số (hoặc gọi là bao 17 lô), nếu trúng sẽ thắng số tiền với tỉ lệ 1:45 (đài miền N và miền T) và 1:33 (đài miền B);
  • Người chơi chọn số tự nhiên có ba chữ số từ 000 đến 999 để cược cho giải bảy, giải sáu, giải năm và giải đặc biệt của đài miền N, miền T, gọi là đánh bao 6 lô, nếu trúng sẽ thắng số tiền với tỉ lệ 1:108;
  • Người chơi chọn số tự nhiên có ba chữ số từ 000 đến 999 để cược cho giải đặc biệt, gọi là đánh độc đắc, nếu trúng sẽ thắng số tiền với tỉ lệ 1:650 (cả đài miền N, miền T và miền B);
  • Người chơi chọn số tự nhiên có hai chữ số từ 00 đến 99 để cược cho giải tám (gọi là thượng hoặc là đầu) và hai chữ số tận cùng của giải đặc biệt (gọi là hạ hoặc là đuôi), gọi là đánh thượng hạ (đầu đuôi), tỉ lệ chung là 1:91. Tùy theo số lượng giải thượng, hạ và cách chơi để chia số tiền đánh bạc cho số lượng giải thưởng rồi nhân với tỉ lệ chung sẽ ra số tiền thắng.
  • Người chơi chọn hai số có hai chữ số từ 00 đến 99 để cược cho hai chữ số tận cùng của tất cả các giải ở đài miền B, gọi là đánh xiên 2, nếu đồng thời xuất hiện cả hai số thì trúng và thắng số tiền với tỉ lệ 1:13; tương tự xiên 3 thì tỉ lệ 1:52.

* Việc tổ chức đánh bạc, đánh bạc cụ thể như sau:

1. Trần Công Đ

Trần Công Đ sử dụng điện thoại di động hiệu iPhone 6, màu trắng, số IMEI: 354404062095787, gắn sim số thuê bao 0792.713467 nhận tin nhắn tịch đề từ các người chơi.

* Ngày 20/10/2023

- Đài miền N:

+ Dương Trương N1 sử dụng số thuê bao 0876.611657 (lưu trong danh bạ điện thoại của Đ là A Đ1) nhắn tin mua số đề đài miền N với số tiền 600.000 đồng, trúng thưởng 2.020.000 đồng.

+ Số thuê bao 0795.787808 (chưa xác định chủ số thuê bao, lưu trong danh bạ điện thoại của Đ là VSS) nhắn tin mua số đề với số tiền 9.140.000 đồng, trúng thưởng 7.119.000 đồng.

Sau khi tổng hợp, Trần Công Đ nhắn tin chuyển một phần tịch đề để hưởng tiền hoa hồng, cụ thể:

+ Trần Công Đ nhắn tin chuyển tịch đề cho Ngô Văn K thông qua số thuê bao 0768.194931 (được lưu trong danh bạ điện thoại của Đ là MN) với số tiền 6.350.000 đồng, trúng thưởng 4.749.000 đồng.

+ Trần Công Đ nhắn tin chuyển tịch đề cho Dương Trương N1 với số tiền 60.000 đồng, không trúng thưởng.

+ Trần Công Đ giữ lại phần tịch đề với số tiền 3.330.000 đồng, trúng thưởng 4.390.000 đồng.

Số tiền bán số đề là 9.740.000 đồng, số tiền trúng thưởng là 9.139.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc đài miền N là 18.879.000 đồng. Tổng số tiền hoa hồng phải trả cho người chơi là 974.000 đồng, tổng số tiền hoa hồng được hưởng là 641.000 đồng.

- Đài miền T

+ Võ Thị G sử dụng số thuê bao 0797.342952 (được lưu trong danh bạ điện thoại của Đ là Rau T) nhắn tin mua số đề đài miền T với số tiền 2.220.000 đồng, không trúng thưởng.

+ Dương Trương N1 nhắn tin mua số đề với số tiền 1.050.000 đồng, trúng thưởng 883.000 đồng.

+ Số thuê bao 0795.787808 (VSS) nhắn tin mua số đề với số tiền 21.630.000 đồng, trúng thưởng 7.827.500 đồng.

Sau khi tổng hợp, Trần Công Đ nhắn tin chuyển một phần tịch đề để hưởng tiền hoa hồng, cụ thể:

+ Trần Công Đ nhắn tin chuyển tịch đề cho Ngô Văn K với số tiền 13.540.000 đồng, trúng thưởng 5.050.000 đồng.

+ Trần Công Đ nhắn tin chuyển tịch đề cho Dương Trương N1 với số tiền 1.260.000 đồng, không trúng.

+ Trần Công Đ giữ lại phần tịch đề với số tiền 10.100.000 đồng, trúng thưởng 3.660.500 đồng.

Số tiền bán số đề là 24.900.000 đồng, số tiền trúng thưởng là 8.710.500 đồng, tổng số tiền đánh bạc đài miền T1 là 33.610.500 đồng. Tổng số tiền hoa hồng phải trả cho người chơi là 2.490.000 đồng, tổng số tiền hoa hồng được hưởng là 1.480.000 đồng.

- Đài miền B (thời điểm Công an thành phố H phát hiện bắt giữ thì chưa có kết quả xổ số kiến thiết đài miền B, nên không tính kết quả thắng thua).

+ Dương Trương N1 nhắn tin mua số đề đài miền B số tiền 615.000 đồng.

+ Số thuê bao 0795.787808 (VSS) nhắn tin mua số đề đài miền B số tiền 12.590.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc của Trần Công Đ ở đài miền B là 13.205.000 đồng. Tổng số tiền hoa hồng phải trả cho người chơi là 1.320.500 đồng.

- Ngày 20/10/2023, Trần Công Đ thu lợi số tiền 2.716.000 đồng.

* Ngày 18/10/2023

Trần Công Đ sử dụng điện thoại di động iPhone 11, màu đen, số IMEI: 358989491268621, gắn sim số thuê bao 0906.455155, đăng nhập tài khoản Zalo tên Đ nhận tin nhắn mua số đề từ tài khoản Zalo tên Thương Tý H, mua số đề đài miền T số tiền 500.000 đồng, không trúng thưởng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc là 500.000 đồng. Trần Công Đ thu lợi số tiền 500.000 đồng.

* Ngày 14/10/2023

Trần Công Đ sử dụng điện thoại di động IPhone 11, màu đen, số IMEI: 358989491268621, gắn sim số thuê bao 0906.455155, đăng nhập tài khoản Zalo tên Đ nhận tin nhắn mua số đề từ tài khoản Zalo tên Thương Tý H, mua số đề đài miền T số tiền 1.500.000 đồng, không trúng thưởng. Số tiền đánh bạc là 1.500.000 đồng. Trần Công Đ thu lợi số tiền 1.500.000 đồng.

2. Nguyễn Thị Mỹ L

* Ngày 20/10/2023

- Đài miền N

+ Nguyễn Thị Mỹ L sử dụng điện thoại di động hiệu iPhone Xs Max, màu đen, gắn sim số thuê bao 0896.787616 nhận tin nhắc ghi số đề cho người đàn ông tên 2 (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng số thuê bao 0795.684601với số tiền 600.000 đồng, kết quả không trúng thưởng. Sau đó, L nhắn tin đến số thuê bao 0768.194931 của Ngô Văn K chuyển một phần tịch đề với số tiền 300.000 đồng, không trúng; L giữ lại phần tịch đề với số tiền 300.000 đồng, không trúng. Theo thỏa thuận người đàn ông tên 2 được hưởng hoa hồng 09% từ L.

+ L sử dụng điện thoại di động iPhone 11 Pro max, gắn sim số thuê bao 0763.295.655 nhắn tin đến số thuê bao 0768.194931 của Ngô Văn K mua số đề đài miền N số tiền 22.350.000 đồng, kết quả không trúng thưởng.

Tổng số tiền đánh bạc đài miền N là 22.950.000 đồng. Tổng số tiền hoa hồng phải trả cho người chơi là 54.000 đồng, Tổng số tiền hoa hồng được hưởng là: 2.265.000 đồng.

- Đài miền T

+ Nguyễn Thị Mỹ L ghi số đề cho người đàn ông tên 2 với số tiền 2.320.000 đồng, trúng thưởng 750.000 đồng. Sau đó, L nhắn tin cho Ngô Văn K chuyển một phần tịch đề với số tiền 1.560.000, trúng thưởng 250.000 đồng; L giữ lại phần tịch đề với số tiền 760.000 đồng, trúng thưởng 500.000 đồng.

+ L sử dụng điện thoại di động iPhone 11 Pro max gắn số thuê bao 0763.295.655 nhắn tin đến số thuê bao 0768.194931 của Ngô Văn K mua số đề đài miền T số tiền 14.600.000 đồng, kết quả không trúng thưởng.

Số tiền mua bán số đề là 16.920.000 đồng, số tiền trúng thưởng là 750.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc đài miền T1 là 17.670.000 đồng. Tổng số tiền hoa hồng phải trả cho người chơi là 208.800 đồng, tổng số tiền hoa hồng được hưởng là 1.616.000 đồng.

- Đài miền B (thời điểm Công an thành phố H phát hiện bắt giữ thì chưa có kết quả xổ số kiến thiết đài miền B, nên không tính kết quả thắng thua).

+ Nguyễn Thị Mỹ L ghi số đề cho người đàn ông tên 2 với số tiền 500.000 đồng. Sau đó, L nhắn tin cho Ngô Văn K chuyển phần tịch đề với số tiền 150.000 đồng; L giữ lại phần tịch đề với số tiền 350.000 đồng.

+ L sử dụng điện thoại di động iPhone 11 Pro max gắn số thuê bao 0763.295.655 nhắn tin cho Ngô Văn K mua số đề đài miền B số tiền 29.500.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc là 30.000.000 đồng. Tổng số tiền hoa hồng phải trả cho người chơi là 45.000 đồng, tổng số tiền hoa hồng được hưởng là: 2.965.000 đồng.

Trong ngày, Nguyễn Thị Mỹ L thua số tiền 59.001.800 đồng.

* Ngày 19/10/2023

- Đài miền N

Nguyễn Thị Mỹ L ghi số đề cho người đàn ông tên 2 với số tiền 330.000 đồng, trúng thưởng 1.000.000 đồng. Sau đó, L nhắn tin cho Ngô Văn K để chuyển tịch đề 180.000 đồng, trúng thưởng 500.000 đồng; L giữ lại phần tịch đề 150.000 đồng, trúng thưởng 500.000 đồng.

Số tiền mua bán số đề là 330.000 đồng, số tiền trúng thưởng là 1.000.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 1.330.000 đồng. Số tiền hoa hồng phải trả cho người chơi là 29.700 đồng, hoa hồng được hưởng là 18.000 đồng.

- Đài miền T

+ Nguyễn Thị Mỹ L sử dụng điện thoại di động iPhone 11 Pro max màu đen, gắn sim số thuê bao 0763.295.655, đăng nhập tài khoản Zalo mang tên "Linh Pig" nhận tin nhắn mua số đề từ Nguyễn Thị K2 thông qua tài khoản Zalo "Chị2" với số tiền 200.000 đồng, không trúng. Nguyễn Thị K2 không nhận tiền hoa hồng.

+ L ghi số đề cho người đàn ông tên 2 với số tiền 850.000 đồng, trúng thưởng 500.000 đồng.

Sau đó, L nhắn tin cho Ngô Văn K chuyển một phần tịch đề với số tiền 50.000 đồng, không trúng; L giữ lại phần tịch đề 1.000.000 đồng, trúng thưởng 500.000 đồng.

Số tiền mua bán số đề là 1.050.000 đồng, số tiền trúng thưởng là 500.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 1.550.000 đồng. Số tiền hoa hồng phải trả cho người chơi là 76.500 đồng, hoa hồng được hưởng là 5.000 đồng.

- Đài miền Bắc

Nguyễn Thị Mỹ L ghi số đề cho Nguyễn Thị K2 với số tiền 1.200.000 đồng, không trúng. L ghi số đề cho người đàn ông tên 2 với số tiền 600.000 đồng, không trúng. Sau đó, L nhắn tin cho Ngô Văn K chuyển một phần tịch đề với số tiền 500.000 đồng, không trúng; L giữ lại phần tịch đề 1.300.000 đồng, không trúng.

Số tiền đánh bạc là 1.800.000 đồng. Số tiền hoa hồng phải trả cho người chơi là 54.000 đồng, số tiền hoa hồng được hưởng là 50.000 đồng.

Trong ngày, Nguyễn Thị Mỹ L thu lợi số tiền 1.362.800 đồng.

* Ngày 18/10/2023

- Đài miền N

Nguyễn Thị Mỹ L ghi số đề cho người đàn ông tên 2 với số tiền 600.000 đồng, không trúng. Vậy, tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Thị Mỹ L đài miền N là 600.000 đồng. Tiền hoa hồng phải trả cho người chơi là 54.000 đồng.

- Đài miền T

Nguyễn Thị Mỹ L ghi số đề cho Nguyễn Thị K2 số tiền 200.000 đồng, không trúng. L ghi số đề cho người đàn ông tên 2 số tiền 2.100.000 đồng, trúng thưởng 750.000 đồng. Sau đó, L nhắn tin cho Ngô Văn K chuyển phần tịch đề với số tiền 1.300.000 đồng, trúng thưởng 250.000 đồng; L giữ lại phần tịch đề 1.000.000 đồng, trúng thưởng 500.000 đồng.

Số tiền mua bán số đề là 2.300.000 đồng, trúng thưởng 750.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 3.050.000 đồng. Số tiền hoa hồng trả cho người chơi là 189.000 đồng, số tiền hoa hồng được nhận là 130.000 đồng.

- Đài miền Bắc

Nguyễn Thị Mỹ L ghi số đề cho Nguyễn Thị K2 số tiền 1.300.000 đồng, trúng thưởng 1.320.000 đồng. L ghi số đề cho người đàn ông tên 2 số tiền 1.350.000 đồng, trúng thưởng 1.500.000 đồng. Sau đó, L nhắn tin cho Ngô Văn K chuyển phần tịch đề số tiền 1.000.000 đồng, trúng 1.500.000 đồng; L giữ lại phần tịch đề số tiền 1.650.000 đồng, trúng thưởng 1.320.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Thị Mỹ Llà 5.470.000 đồng (gồm: 2.650.000 đồng tiền bán số đề và 2.820.000 đồng tiền trúng thưởng). Số tiền hoa hồng trả cho người chơi là 121.500 đồng, tiền hoa hồng được nhận là 100.000 đồng.

Trong ngày, Nguyễn Thị Mỹ L thu lợi số tiền 1.295.500 đồng.

* Ngày 17/10/2023

- Đài miền N

Nguyễn Thị Mỹ L ghi số đề cho người đàn ông tên 2 số tiền 1.800.000 đồng, không trúng. Sau đó, L nhắn tin cho Ngô Văn K chuyển tịch đề số tiền 1.500.000 đồng, không trúng; L giữ lại phần tịch đề số tiền 300.000 đồng, không trúng. Vậy, tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Thị Mỹ L là 1.800.000 đồng. Tiền hoa hồng trả cho người chơi là 162.000 đồng, tiền hoa hồng được nhận là 150.000 đồng.

- Đài miền T

Nguyễn Thị Mỹ L ghi số đề cho Nguyễn Thị K2 số tiền 200.000 đồng, không trúng. L ghi số đề cho người đàn ông tên 2 số tiền 2.870.000 đồng, không trúng thưởng. Sau đó, L nhắn tin cho Ngô Văn K chuyển tịch đề số tiền 1.620.000 đồng, không trúng; L giữ lại phần tịch đề 1.450.000 đồng, không trúng.

Tổng số tiền đánh bạc của L là 3.070.000 đồng. Số tiền hoa hồng trả cho người chơi là 258.300 đồng, số tiền hoa hồng được nhận là 162.000 đồng.

- Đài miền Bắc

Nguyễn Thị Mỹ L bán số đề cho Nguyễn Thị K2 số tiền 1.300.000 đồng, trúng thưởng 660.000 đồng. Vậy, tổng số tiền đánh bạc của L là 1.960.000 đồng

Trong ngày, Nguyễn Thị Mỹ L thu lợi số tiền 2.281.700 đồng.

* Ngày 16/10/2023

- Đài miền T

Nguyễn Thị Mỹ L ghi số đề cho Nguyễn Thị K2 số tiền 200.000 đồng, không trúng. L ghi số đề cho người đàn ông tên 2 số tiền 1.370.000 đồng, không trúng. Sau đó, L nhắn tin cho Ngô Văn K chuyển tịch đề số tiền 320.000 đồng, không trúng; L giữ lại phần tịch đề số tiền 1.250.000 đồng, không trúng.

Tổng số tiền đánh bạc của L là 1.570.000 đồng. Số tiền hoa hồng phải trả cho người chơi là 123.300 đồng, số tiền hoa hồng được nhận là 32.000 đồng.

- Đài miền Bắc

Nguyễn Thị Mỹ L bán số đề cho Nguyễn Thị K2 số tiền 1.200.000 đồng, trúng thưởng 660.000 đồng. L bán số đề cho người đàn ông tên 2 số tiền 250.000 đồng, trúng thưởng 165.000 đồng. Sau đó, L nhắn tin cho Ngô Văn K chuyển tịch đề số tiền 100.000 đồng, trúng thưởng 165.000 đồng; L giữ lại phần tịch đề 1.350.000 đồng, trúng thưởng 660.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc của L là 2.275.000 đồng (gồm: 1.450.000 đồng tiền bán số đề và 825.000 đồng tiền trúng thưởng). Số tiền hoa hồng trả cho người chơi là 22.500 đồng, số tiền hoa hồng được nhận là 10.000 đồng.

Trong ngày, Nguyễn Thị Mỹ L thu lợi số tiền 1.861.200 đồng.

* Ngày 15/10/2023

Ngoài phần tịch đề nhận từ Nguyễn Thị Mỹ L, Ngô Văn K còn nhận tịch đề từ những người chơi sau:

- Đài miền N

+ T2 nhắn tin mua số đề số tiền 5.080.000 đồng, trúng thưởng 5.306.833 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc của Ngô Văn K ở đài miền N là 11.016.833 đồng (gồm 5.710.000 đồng bán số đề và 5.306.833 đồng trúng thưởng). Tiền hoa hồng trả cho người chơi là 571.000 đồng.

- Đài miền T

+ Mử nhắn tin mua số đề số tiền 4.230.000 đồng, trúng thưởng 1.515.000 đồng.

+ T2 mua số đề số tiền 10.573.000 đồng, trúng thưởng 10.975.500 đồng.

+ H3 nhắn tin mua số đề số tiền 3.850.000 đồng, không trúng.

Tổng số tiền đánh bạc của Ngô Văn K ở đài miền T là 31.463.500 đồng (gồm 18.973.000 đồng bán số đề và 12.490.500 đồng trúng thưởng). Tiền hoa hồng trả cho người chơi là 1.897.300 đồng.

- Đài miền B

+ T2 nhắn tin mua số đề số tiền 7.485.000 đồng, trúng thưởng 9.265.800 đồng.

+ H3 nhắn tin mua số đề số tiền 1.435.000 đồng, trúng thưởng 1.685.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc của Ngô Văn K ở đài miền B là 19.920.800 đồng (gồm 8.970.000 đồng bán số đề và 10.950.800 đồng trúng thưởng). Tiền hoa hồng trả cho người chơi là 897.000 đồng.

Trong ngày, Ngô Văn K thu lợi 1.539.567 đồng.

* Ngày 14/10/2023

Ngoài phần tịch đề nhận từ Nguyễn Thị Mỹ L, Ngô Văn K còn nhận tịch đề từ những người chơi sau:

- Đài miền N

+ T2 nhắn tin mua số đề số tiền 4.940.000 đồng, trúng thưởng 5.086.333 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc của Ngô Văn K ở đài miền N là 10.426.333 đồng (gồm 5.340.000 đồng bán số đề và 5.086.333 đồng trúng thưởng). Tiền hoa hồng trả cho người chơi là 534.000 đồng.

- Đài miền T

+ Mử nhắn tin mua số đề số tiền 13.030.000 đồng, trúng thưởng 9.830.000 đồng.

+ T2 nhắn tin mua số đề số tiền 8.410.000 đồng, trúng thưởng 6.764.833 đồng.

+ H3 nhắn tin mua số đề số tiền 1.470.000 đồng, không trúng.

Tổng số tiền đánh bạc của Ngô Văn K ở đài miền T là 41.004.833 đồng (gồm 24.410.000 đồng bán số đề và 16.594.833 đồng trúng thưởng). Tiền hoa hồng trả cho người chơi là 2.441.000 đồng.

- Đài miền B

+ T2 nhắn tin mua số đề số tiền 7.040.000 đồng, trúng thưởng 3.466.400 đồng.

+ H3 nhắn tin mua số đề số tiền 6.750.000 đồng, không trúng.

Tổng số tiền đánh bạc của Ngô Văn K ở đài miền B là 18.156.400 đồng (gồm 14.690.000 đồng bán số đề và 3.466.400 đồng trúng thưởng). Tiền hoa hồng trả cho người chơi là 1.469.000 đồng.

Trong ngày, Ngô Văn K thu lợi số tiền 14.848.434 đồng.

* Ngày 13/10/2023

Chỉ thu thập được dữ liệu về hành vi đánh bạc giữa Ngô Văn K và Nguyễn Thị Mỹ L. Số tiền đánh bạc của Ngô Văn K ở đài miền T là 300.000 đồng. Tiền hoa hồng trả cho người chơi là 30.000 đồng. Trong ngày, K thu lợi 270.000 đồng.

* Ngày 12/10/2023

Chỉ thu thập được dữ liệu về hành vi đánh bạc giữa Ngô Văn K và Nguyễn Thị Mỹ L. Số tiền đánh bạc của Ngô Văn K ở đài miền T là 150.000 đồng. Tiền hoa hồng trả cho người chơi là 15.000 đồng. Trong ngày, K thu lợi 135.000 đồng.

* Ngày 11/10/2023

Chỉ thu thập được dữ liệu về hành vi đánh bạc giữa Ngô Văn K và Nguyễn Thị Mỹ L. Số tiền đánh bạc của Ngô Văn K ở đài miền T là 1.000.000 đồng, ở đài miền B là 500.000 đồng. Tiền hoa hồng trả cho người chơi là 150.000 đồng. Trong ngày, K thu lợi 1.350.000₫.

* Ngày 10/10/2023

Chỉ thu thập được dữ liệu về hành vi đánh bạc giữa Ngô Văn K và Nguyễn Thị Mỹ L. Số tiền đánh bạc của Ngô Văn Kở đài miền Tlà 1.860.000 đồng (gồm 1.360.000 đồng bán số đề và 500.000 đồng trúng thưởng); ở đài miền B là 1.720.000 đồng (gồm 400.000 đồng bán số đề và 1.320.000 đồng trúng thưởng). Số tiền hoa hồng trả cho người chơi là 176.000 đồng. Trong ngày, K thua số tiền 236.000 đồng.

* Ngày 09/10/2023

Chỉ thu thập được dữ liệu về hành vi đánh bạc giữa Ngô Văn K và Nguyễn Thị Mỹ L. Số tiền đánh bạc của Ngô Văn K ở đài miền T là 780.000 đồng; ở đài miền B là 650.000 đồng (gồm 200.000 đồng bán số đề và 450.000 đồng trúng thưởng). Số tiền hoa hồng trả cho người chơi là 98.000 đồng. Trong ngày, K thu lợi số tiền 432.000 đồng.

* Ngày 08/10/2023

Chỉ thu thập được dữ liệu về hành vi đánh bạc giữa Ngô Văn K và Nguyễn Thị Mỹ L. Số tiền đánh bạc của Ngô Văn Kở đài miền Tlà 2.680.000 đồng (gồm 1.680.000 đồng bán số đề và 1.000.000 đồng trúng thưởng); ở đài miền B là 615.000 đồng (gồm 450.000 đồng bán số đề và 165.000 đồng trúng thưởng). Số tiền hoa hồng trả cho người chơi là 213.000 đồng. Trong ngày, K thu lợi số tiền 752.000 đồng.

* Ngày 07/10/2023

Chỉ thu thập được dữ liệu về hành vi đánh bạc giữa Ngô Văn K và Nguyễn Thị Mỹ L. Số tiền đánh bạc của Ngô Văn K ở đài miền T 3.190.000 đồng (gồm 1.690.000 đồng bán số đề và 1.500.000 đồng trúng thưởng). Số tiền hoa hồng trả cho người chơi là 169.000 đồng. Trong ngày, K thu lợi 21.000 đồng.

Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Ngô Văn K và Trần Công Đ phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị Thúy S và Dương Trương N1 phạm tội “Đánh bạc”.

- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn K 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 21/10/2023 đến ngày 18/01/2024.

- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt: Bị cáo Trần Công Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 21/10/2023 đến ngày 30/10/2023.

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thúy S 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt: Bị cáo Dương Trương N1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/11/2024, các bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị Thúy S, Dương Trương N1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ; ngày 19/11/2024, các bị cáo Ngô Văn K, Trần Công Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Ngô Văn K và Trần Công Đ phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị Thúy S và Dương Trương N1 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật. Đồng thời, đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm căn cứ xử phạt các bị cáo: Ngô Văn K 15 tháng tù, Trần Công Đ 06 tháng tù, Nguyễn Thị Mỹ L 06 tháng tù, Nguyễn Thị Thúy S06 tháng tù, Dương Trương N109 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Ngô Văn K nộp đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn, bị cáo Dương Trương N1 nộp tiền truy thu 54.138.000 đồng và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm (theo biên lai thu tiền số 0011131 ngày 17/3/2025 và theo biên lai thu tiền số 0011132 ngày 17/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hội An), bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L nộp truy thu số tiền 30.000.000 đồng (theo biên lai thu tiền số 0011119 ngày 18/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hội An), bị cáo Nguyễn Thị Thúy S đã nộp truy thu số tiền 11.831.500 đồng (theo biên lai thu tiền số 0011130 ngày 14/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hội An). Tuy nhiên, hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Ngô Văn K, Dương Trương N1, Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị Thúy S.

Đối với bị cáo Trần Công Đ, sau khi xét xử sơ thẩm đã nộp tiền truy thu 54.274.000 đồng; bị cáo cung cấp đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, tham gia tốt các hoạt động tại địa phương, được Công an thị xã Đ có công văn trao đổi về việc tích cực hợp tác trong quá trình phát hiện, điều tra vụ án tàng trữ trái phép chất ma tuý nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Đ, áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo số tiền từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.

Bị cáo không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo có đơn kháng cáo theo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:

Ngô Văn K đã tổ chức đánh bạc bằng hình thức nhận tịch đề từ các người chơi chuyển đến, sau đó giữ lại một phần tịch đề tự chung chi, một phần tịch đề chuyển cho người khác để hưởng tiền hoa hồng. Từ ngày 07/10/2023 đến ngày 20/10/2023, K đã thực hiện 31 lần tổ chức đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề với tổng số tiền là 490.783.182 đồng.

Trần Công Đ đã tổ chức đánh bạc bằng hình thức nhận tịch đề từ các người chơi chuyển đến, sau đó giữ lại một phần tịch đề tự chung chi, một phần tịch đề chuyển cho người khác để hưởng tiền hoa hồng. Từ ngày 14/10/2023 đến ngày 20/10/2023, Đ đã thực hiện 05 lần tổ chức đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề với tổng số tiền 67.694.500 đồng, trong đó có 01 lần tổ chức đánh bạc đài miền T tổng cộng số tiền trên 20.000.000 đồng (33.610.500 đồng).

Nguyễn Thị Mỹ L đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số đề cho 02 (hai) người chơi, sau đó giữ lại một phần tịch đề để tự chung chi, một phần tịch đề chuyển cho Ngô Văn K để hưởng tiền hoa hồng; ngoài ra, L còn trực tiếp mua số đề. Từ ngày 06/10/2023 đến ngày 20/10/2023, L đã thực hiện 34 lần đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề với tổng số tiền 72.315.000 đồng.

Lê Quang H2 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua số đề với Ngô Văn K. Ngày 19/10/2023, H2 điện thoại cho K để mua số đề đài miền B với tổng số tiền đánh bạc là 32.220.000 đồng.

Nguyễn Thị Thúy S đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề với Ngô Văn K, cụ thể: Sinh nhắn tin mua số đề với K, ngược lại K nhắn tin chuyển tịch đề cho S. Từ ngày 18/10/2023 đến ngày 20/10/2023, S đã thực hiện 05 lần đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề với tổng số tiền 31.865.000 đồng.

Dương Trương N1 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề với Ngô Văn K và Trần Công Đ, cụ thể: N1 nhắn tin mua số đề với K; ngoài ra, N1 nhắn tin mua số đề với Đ, ngược lại Đ nhắn tin mua số đề với N1. Ngày 20/10/2023, N1 đã thực hiện 03 lần đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề với tổng số tiền 27.613.000 đồng.

Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam đã kết án các bị cáo Ngô Văn K, Trần Công Đ về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017; các bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị Thúy S. Dương Trương N1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo Ngô Văn K, Trần Công Đ, Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị Thúy S, Dương Trương N1, thì thấy:

Đối với các bị cáo Ngô Văn K và Dương Trương N1: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Ngô Văn K đã nộp đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn; bị cáo Dương Trương N1 nộp tiền truy thu 54.138.000 đồng và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, trong vụ án này bị cáo Ngô Quang K3 là người đứng ra tổ chức cho các bị cáo khác đánh bạc, là đầu trên của các bị cáo còn lại, bị cáo tổ chức đánh bạc nhiều lần, số tiền tổ chức đánh bạc lớn (409.783.182 đồng); bị cáo Dương Trương N1 phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm cùng hành vi đánh bạc. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo K3 và N1 gây ra; đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo, xử phạt bị cáo Ngô Văn K mức hình phạt 15 tháng tù, bị cáo Dương Trương N1 09 tháng tù là có căn cứ pháp luật và không nặng, đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ngô Văn K và Dương Trương N1, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt theo như đề nghị của Kiểm sát viên.

Đối với các bị cáo Trần Công Đ, Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị Thúy S: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị Thúy S, Trần Công Đ bổ sung tài liệu, chứng cứ mới gồm: Bị cáo Trần Công Đ nộp tiền truy thu và án phí hình sự sơ thẩm 54.274.000 đồng (theo biên lai thu tiền số 0011131 ngày 17/3/2025 và theo biên lai thu tiền số 0011132 ngày 17/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hội An), đơn xin xác nhận hoàn cảnh, bị cáo là lao động chính trong gia đình, tham gia tốt các hoạt động tại địa phương, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo được Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ có công văn trao đổi thông tin về việc bị cáo Đ đã có thành tích giúp đỡ Cơ quan điều tra phát hiện, điều tra khám phá vụ án ma tuý nên đề nghị áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L nộp tiền truy thu 30.000.000 đồng (theo biên lai thu tiền số 0011119 ngày 18/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hội An), hiện tại bị cáo vừa sinh con được 18 ngày tuổi (khi xét xử sơ thẩm bị cáo đang mang thai nhưng bản án sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội là phụ nữ có thai” là thiếu sót nên cấp phúc thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo L), bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo Nguyễn Thị Thúy S đã nộp tiền truy thu 11.831.500 đồng (theo biên lai thu tiền số 0011130 ngày 14/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hội An), hiện bị cáo đang nuôi 02 con còn nhỏ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phát sinh mới tại cấp phúc thẩm, xét thấy số tiền tổ chức đánh bạc, đánh bạc của các bị cáo là không lớn, sau khi xét xử phúc thẩm phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Công Đ, Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị Thúy S sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt, chuyển hình phạt phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo Trần Công Đ, Nguyễn Thị Mỹ L và áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Thị Thúy S là phù hợp, thể hiện tính nhân văn của pháp luật.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Ngô Văn K, Dương Trương N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm; do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo Trần Công Đ, Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị Thúy S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

    Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ngô Văn K, Dương Trương N1, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2024/HS-ST ngày 06 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam về phần hình phạt đối với các bị cáo Ngô Văn K, Dương Trương N1;

    - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Xử phạt bị cáo Ngô Văn K 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 21/10/2023 đến ngày 18/01/2024).

    - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Xử phạt bị cáo Dương Trương N1 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

  2. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Công Đ, Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị Thúy S, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2024/HS-ST ngày 06 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam về phần hình phạt đối với các bị cáo Trần Công Đ, Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị Thúy S;

    - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Xử phạt bị cáo Trần Công Đ 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 19/3/2025).

    Giao bị cáo Trần Công Đ cho Ủy ban nhân dân xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam giám sát giáo dục trong thời gian thử thách án treo.

    - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm n, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 19/3/2025).

    Giao bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam giám sát giáo dục trong thời gian thử thách án treo.

    Trong trường hợp các bị cáo Trần Công Đ và Nguyễn Thị Mỹ L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo Trần Công Đ và Nguyễn Thị Mỹ L cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù đã cho hưởng án treo.

    - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thúy S 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự nhận được quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo Nguyễn Thị Thúy S cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

    Không khấu trừ thu nhập của bị cáo Nguyễn Thị Thúy S trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

  3. Các bị cáo Ngô Văn K, Dương Trương N1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các Trần Công Đ, Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị Thúy S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (19/03/2025).

    (Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà đã giải thích quy định của pháp luật về án treo cho các bị cáo Trần Công Đ và Nguyễn Thị Mỹ L).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đinh Tấn Long

Nơi nhận:

  • - Các cơ quan tiến hành tố tụng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh Quảng Nam;
  • - Phòng HSNV Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tòa Hình sự.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2025/HS-PT ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 84/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kháng cáo về hình phạt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger