|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 84/2025/HS-PT. Ngày: 09/6/2025. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Quốc Thành.
Các Thẩm phán: Ông Đào Anh Đức.
Ông Lê Ngọc Lâm.
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Bà Thiều Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 109/2025/TLPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2025. Do Bản án sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2025/QĐXXPT-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025, đối với:
* Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Đỗ Đức T, tên gọi khác: Không - Sinh năm 1990, tại phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội. Số CCCD: [...].
Nơi cư trú: C, tổ B, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Đỗ Đức H (SN 1962) và bà: Vũ Ngọc H1 (SN 1962). Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh em. Vợ, con: Chưa có; Tiền sự, Tiền án: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).
* Người làm chứng:
Anh Nguyễn Đình Q (SN 1987). Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thực hiện công tác quản lý các đối tượng có liên quan đến ma túy trên địa bàn, ngày 22/10/2024, Công an xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đã đưa đối tượng Nguyễn Đức Q1 (SN 1987), trú tại thôn Đ, xã T, huyện T đi xét nghiệm định kỳ về ma túy; kết quả xét nghiệm dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine. Tại Cơ quan Công an, Nguyễn Đức Q1 khai nhận: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 22/10/2024, Q1 một mình đi xuống tìm và gặp Lê Trọng H2 (SN 1990, trú tại thôn H, xã T, huyện T) tại nhà vợ của H2 ở thôn E, xã T, huyện T. Tại đây, qua trao đổi, H2 đồng ý bán cho Q1 01 (một) gói ma túy đá với giá 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, Q1 cất giấu gói ma túy vào trong người và trở về nhà tại thôn Đ, xã T và sử dụng hết số ma túy trên một mình. Đến chiều cùng ngày, Tổ công tác Công an xã T phát hiện Nguyễn Đức Q1 dương tính với ma túy.
Trên cơ sở lời khai của Nguyễn Đức Q1, Cơ quan Điều tra Công an huyện T, tỉnh Thanh Hoá đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Trọng H2 về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của H2. Quá trình khám xét nơi ở của H2 tại thôn E, xã T, huyện T khi bắt giữ H2, Cơ quan Điều tra còn thu giữ được 01 túi nilon màu trắng có kích thước khoảng 05x07cm, bên trong có các hạt tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy), 01 túi nilon màu đỏ có in chữ GUCCI, có kích thước khoảng 05x03cm, bên trong có 12 (mười hai) viên nén màu đỏ, đường kính mỗi viên là 0,5cm (nghi là chất ma túy); 01 cân tiểu ly 200g, màu đen kích thước 07x13cm; 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, màu xanh tím, nhãn hiệu OPPO A5 có gắn thẻ sim số 0359.532.380 để phục vụ công tác điều tra.
Tại Cơ quan Điều tra, Lê Trọng H2 khai nhận: Chiều ngày 20/10/2024, H2 dùng điện thoại có số thuê bao 0359.532.380 gọi đến số thuê bao 0896.366.322 của Đỗ Đức T hỏi mua ma túy thì T đồng ý (T là bạn đại học với H2). Cả hai trao đổi, thống nhất H2 mua 01 (một) hộp 10 (mười) ma túy đá (tức 10g ma túy đá) với giá 7.800.000₫ và 20 (hai mươi) viên ma túy hồng phiến với giá 1.000.000₫ từ T. Khoảng 14 giờ ngày 20/10/2024, H2 dùng số tài khoản 66622091990 Ngân hàng T1 chuyển khoản 8.800.000đ vào số tài khoản 322322366 Ngân hàng L chủ tài khoản “VU NGỌC HẠNH”. Đến trưa ngày 21/10/2024, T gọi điện thoại cho H2 bảo gửi ma túy qua xe dịch vụ ghép và gửi số điện thoại 0344.280.xxx của nhà xe cho H2. Đến chiều ngày 21/10/2024 thì H2 gọi điện báo cho T đã nhận được ma túy. Sau khi mua được ma túy, H2 đã bán cho Q1 01 gói ma túy, số ma túy còn lại H2 tàng trữ để sử dụng và bán cho các đối tượng khác.
Căn cứ vào lời khai của Lê Trọng H2, Cơ quan Điều tra Công an huyện T đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đỗ Đức T (SN 1990, trú tại C, Tổ B, Phường Ô, quận Đ, TP.) về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy đồng thời tiến
3
hành khám xét nhà ở của T, Cơ quan Điều tra còn thu giữ được 02 (hai) túi nilon màu trắng, trong đó 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước 11x7cm bên trong có các hạt tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy); 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước 08x06cm bên trong có các hạt tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy); 10 (mười) túi nilon màu trắng, cụ thể: 04 (bốn) túi kích thước 04x03cm một đầu có viền xanh, bên trong có các hạt tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy); 03 (ba) túi nilon kích thước 04x03cm một mặt màu xanh, một mặt màu trắng, bên trong có các cục vụn màu trắng (nghi là chất ma túy); 01 túi nilon có kích thước 04x03cm một mặt màu da cam, một mặt màu trắng, bên trong có các cục vụn màu trắng (nghi là chất ma túy); 02 (hai) túi nilon màu trắng, có viền xanh, kích thước 08x05cm; 01 túi nilon màu trắng có viền đỏ bên trong có 43 (bốn mươi ba) viên nén hình trong màu đỏ, trên mỗi viên nén có ký hiệu “WY”; và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu XIAOMI bên trong có thẻ sim số 0395.745.001 và 0356.163.590 để phục vụ công tác điều tra.
Về nguồn gốc số ma túy: Đỗ Đức T khai nhận số ma túy bị thu giữ trong quá trình khám xét và bán cho Lê Trọng H2 vào ngày 20/10/2024 là mua lại của một người không quen biết khi đang đi chơi ở quận H, TP Hà Nội với giá 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng) vào ngày 19/10/2024. Sau khi mua được ma túy, Đỗ Đức T phân chia thành các gói nhỏ, kích thước khác nhau để tiện cho việc sử dụng và bán lại cho các đối tượng khác.
* Tại Bản kết luận giám định số 4168/KL-KTHS ngày 31/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- Đối với vật chứng thu giữ của Lê Trọng H2:
- + Các hạt tinh thể màu trắng đựng trong túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (5×7)cm, niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,946g (không phẩy chín bốn sáu gram), loại Methamphetamine.
- + 12 (mười hai) viên nén màu đỏ, đường kính mỗi viên là 0,5cm, đựng trong túi nilon màu đỏ có chữ GUCCI kích thước 03x05m, niêm phong gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 1,148g (một phẩy một trăm bốn tám gam).
- Đối với vật chứng thu giữ của Đỗ Đức T:
- + Các hạt tinh thể màu trắng đựng trong túi nilon màu trắng, kích thước 11x7cm, niêm phong gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 7,562g (bảy phẩy năm sáu hai gam).
- + Các hạt tinh thể màu trắng đựng trong túi nilon màu trắng, kích thước 8x6cm, niêm phong gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 1,225g (một phẩy hai hai năm gam).
4
- + Các cục vụn màu trắng đựng trong 04 túi nilon màu trắng viền xanh, kích thước mỗi túi 4x3cm, niêm phong gửi giám định là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng là 0,414g (không phẩy bốn một bốn gam).
- + Các cục vụn màu trắng đựng trong 03 túi nilon một mặt màu trắng, một mặt màu xanh kích thước mỗi túi 4x3cm, niêm phong gửi giám định là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng là 0,336g (không phẩy ba ba sáu gam).
- + Các cục vụn màu trắng đựng trong túi nilon một mặt màu trắng, một mặt màu da cam kích thước 4x3cm, niêm phong gửi giám định là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng là 0,218g (không phẩy hai một tám gam).
- + Các cục vụn màu trắng đựng trong túi nilon màu trắng, kích thước 8x5cm, đựng trong 02 túi nilon màu trắng viền xanh, kích thước mỗi túi 4x3cm niêm phong gửi giám định là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng là 0,246g (không phẩy hai bốn sáu gam).
- + 43 (bốn ba) viên nén hình trong màu đỏ, trên mỗi viên nén có ký hiệu “WY”, niêm phong gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 4,011g (bốn phẩy không một một gam).
* Tại Bản kết luận giám định số 4629/KL-KTHS ngày 05/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- - 01 (một) điện thoại XIAOMI, POCO X6 Pro 5G màu xám, kiểu máy POCO X6 Pro 5G: tìm thấy 1169 hình ảnh, tin nhắn SMS được thể hiện qua 196 ảnh chụp màn hình, tin nhắn Facebook được thể hiện qua 09 ảnh chụp màn hình, tin nhắn Zalo được thể hiện qua 411 ảnh chụp màn hình - thể hiện trong phụ lục lưu giữ tại USB.
- - 01 (một) điện thoại di động OPPO F5 màu xanh: tìm thấy 158 tin nhắn SMS, 1326 tin nhắn Facebook 797 tin nhắn Zalo, 23 ảnh thể hiện trong phụ lục lưu giữ tại USB.
* Các tình tiết liên quan khác trong vụ án:
- - Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đỗ Đức T: T khai nhận mua được của một người đàn ông lạ mặt (không rõ họ tên, địa chỉ) ở quận H, TP Hà Nội. Bị cáo khai lần đầu mua ma túy của đối tượng, thời điểm mua không được tỉnh táo, không xác định được tên thật, địa chỉ, không nhớ đặc điểm của người đã bán ma túy nên Cơ quan Điều tra sẽ tiếp tục xác minh, xử lý khi có đủ căn cứ.
- - Đối với Nguyễn Đức Q1: Quyền đã mua được ma túy từ Lê Trọng H2. Tuy nhiên, Q1 khai nhận đã sử dụng hết ma túy nên không thu giữ được. Cơ quan Điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Đức Q1 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định.
5
- - Đối với bà Vũ Ngọc H1 (SN 1962), trú tại C, Tổ B, phường Ô, quận Đ, TP. (mẹ đẻ của Đỗ Đức T) là người đứng tên số tài khoản 322322366 ngân hàng L và là chủ sở hữu số thuê bao 0896.336.322 mà T dùng để giao dịch nhận tiền từ H2. Bà H1 khai báo do không có nhu cầu sử dụng số tài khoản 322322366 và số thuê bao 0896.336.322 nên cho T sử dụng. Quá trình T sử dụng số tài khoản ngân hàng và số thuê bao trên để thực hiện hành vi phạm tội, bà H1 không biết nên không có căn cứ xử lý hình sự với bà Vũ Ngọc H1.
- - Đối với xe dịch vụ mà T gửi ma túy về cho H2 vào ngày 21/10/2024, do T và H2 không cung cấp được đặc điểm chiếc xe, biển kiểm soát nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ để làm việc với xe dịch vụ này.
Kết quả xác minh về tài sản, thu nhập, xác định hiện tại các bị cáo không có tài sản và thu nhập.
Bản án sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa đã tuyên bị cáo Đỗ Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Căn cứ vào điểm p khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự (BLHS). Xử phạt Đỗ Đức T 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (23/10/2024). Buộc Đỗ Đức T phải nộp truy thu số tiền bán ma tuý là 8.800.000₫ (tám triệu, tám trăm nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt tù đối với bị cáo khác không có kháng cáo, xử lý vật chứng, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong hạn luật định, ngày 20/3/2025 bị cáo Đỗ Đức T có đơn kháng cáo với nội dung: Cấp sơ thẩm tuyên mức hình phạt đối với bị cáo là quá cao, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của Bản án sơ thẩm đã tuyên.
Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân, hành vi phạm tội của bị cáo cũng như tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa đã đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS), sửa Bản án sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa theo hướng chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Đức T, giảm hình phạt cho bị cáo từ 21 (hai mốt) tháng đến 24 (hai bốn) tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
6
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Xét về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên được coi là hợp pháp. Do vậy, HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận đơn để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội cụ thể:
Xuất phát từ động cơ vụ lợi và nhu cầu sử dụng ma tuý của bản thân, Đỗ Đức T đã mua ma tuý về chia thành các gói nhỏ, kích thước khác nhau để tiện cho việc sử dụng và bán lại cho các đối tượng khác để kiếm lời. Ngày 21/10/2024 T đã bán cho Lê Trọng H2 10g ma túy đá với giá 7.800.000₫ và 20 (hai mươi) viên ma túy hồng phiến với giá 1.000.000đ. Tổng số tiền bán ma tuý cho H2 là 8.800.000₫ (tám triệu tám trăm nghìn đồng); Đồng thời T còn cất giấu tại nhà 12,798g ma túy loại Methamphetamine và 1,214g ma túy loại Heroine để sử dụng và bán kiếm lời. Do đó T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số lượng ma túy thu được của Lê Trọng H2 còn lại là 2,094g loại Methamphetamine và lượng ma tuý thu giữ được tại nhà của T. Tổng cộng là 16,106g ma tuý (trong đó có 1,214g Heroine và 14,892g ma túy loại Methamphetamine).
Lời thừa nhận về hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo khác và phù hợp với các chứng cứ có trong vụ án được thẩm tra tại phiên tòa nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được qui định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của BLHS.
[3] Về tính chất vụ án: Đây là vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” có tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy, và hình phạt đối với các hành vi phạm tội ma túy là rất nghiêm khắc, nhưng vẫn bán ma tuý cho Lê Trọng H2 2,094g loại Methamphetamine, đồng thời tàng trữ để sử dụng và bán kiếm lời số ma tuý thu giữ được còn lại tại nhà là 12,798g ma túy loại Methamphetamine và 1,214g ma túy loại Heroine (Tổng trọng lượng hai chất ma túy quy đổi tương đương là 16,106g ma túy loại Methamphetamine).
Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý ma túy của Nhà nước, mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, ảnh hưởng nghiêm trọng tới tình hình chính trị, trị an và an toàn xã hội. Vì vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục, đồng thời phòng ngừa chung. Cấp sơ thẩm xác định tội danh và khung hình phạt cho bị cáo như trên là có cơ sở.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Đức T:
7
[4.1] Nhận thấy, khi lượng hình cấp sơ thẩm có xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bản thân chưa có tiền án, tiền sự, ngoài ra bị cáo có mẹ đẻ được tặng “Kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục”, ông, bà nội đều được tặng “Huân chương kháng chiến Hạng nhất”. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tình tiết giảm nhẹ này cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tác động tới gia đình tự nguyện nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và toàn bộ số tiền thu lợi bất chính từ hành vi bán ma tuý là 8.800.000₫ (tám triệu, tám trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu số tiền số 0001150 ngày 19/3/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa theo quyết định của Bản án sơ thẩm khi bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, điều đó thể hiện sự ăn ăn hối cải, hối hận với việc làm của mình. Bản thân bị cáo trong quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân, tích cực tham gia ủng hộ Quỹ nhân đạo 1.000.000₫ (một triệu đồng). Hơn nữa hoàn cảnh gia đình là rất khó khăn, bố, mẹ già yếu, bị cáo là lao động chính, chưa vi phạm pháp luật lần nào nên HĐXX cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[5] Xét thấy tại cấp phúc thẩm, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên cần chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự để bị cáo thấy được tính nhân đạo của Nhà nước và sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội. Do vậy, kháng cáo của bị cáo Đỗ Đức T là có cơ sở. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là áp dụng Điều 357 của BLTTHS, chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm và số tiền thu lợi bất chính cần phải truy thu:
Bị cáo Đỗ Đức T đã nộp 9.000.000₫ (chín triệu đồng) tại Biên lai thu số tiền số 0001150 ngày 19/3/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Số tiền này được trừ vào tiền án phí sơ thẩm và số tiền bị cáo bị truy thu.
[7] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đỗ Đức T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.
[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
8
Căn cứ. Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Đức T. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa về phần hình phạt.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Áp dụng: Điểm p khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Đức T 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (23/10/2024).
Về án phí hình sự sơ thẩm và số tiền thu lợi bất chính cần phải truy thu:
Bị cáo Đỗ Đức T đã nộp đủ tại Biên lai thu số tiền số 0001150 ngày 19/3/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.
Về án phí Hình sự phúc thẩm:
Bị cáo Đỗ Đức T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Quốc Thành |
9
Bản án số 84/2025/HS-PT ngày 09/06/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 84/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Mua bán trái phép chất ma túy”
