Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỚI BÌNH

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2025/HNGĐ-ST

Ngày 27-5-2025

V/v Không công nhận vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Trâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quốc Văn

Bà Hồ Lệ Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Mỹ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 về việc Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2025/QĐXX-ST ngày 25 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thanh L (tên gọi khác: Nguyễn Như Ý), sinh năm 1991, có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đông Đ, sinh năm 1990, có yêu cầu vắng mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Hiện đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma tuý tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 21/02/2025 và tại phiên toà, chị Nguyễn Thanh L trình bày:

Về hôn nhân: Chị L và anh Đ tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2015, đến khi làm giấy khai sinh cho con thì có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T nhưng chị không trực tiếp đến Uỷ ban nhân dân xã để đăng ký. Hiện tại giấy chứng nhận kết hôn đã mất.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, anh Đ nhiều lần đánh chị, vợ chồng không có tiếng nói chung và không thể chung sống với nhau được. Hiện tại, vợ chồng đã sống ly thân khoảng 01 năm nay. Do đó, chị L yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Thời gian chung sống anh chị có 02 người con chung là cháu Nguyễn Nhất D, sinh ngày 27/9/2015, đang do chị L nuôi dạy và cháu Nguyễn Duy M, sinh ngày 07/9/2020, đang do anh Đ nuôi dạy. Khi ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy cháu D, thống nhất giao cho anh Đ tiếp tục nuôi dạy cháu M, hai bên không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 19/3/2025, anh Nguyễn Đông Đ trình bày:

Anh và chị L chung sống tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thời gian đăng ký anh không nhớ rõ, Giấy chứng nhận kết hôn đang do mẹ anh là bà Quách Kiều N quản lý. Do còn tình cảm với chị L nên anh không thống nhất ly hôn theo yêu cầu của chị L.

Về con chung: Do không đồng ý ly hôn nên anh không đồng ý giao con chung cho chị L nuôi, anh yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận. Nợ chung: Không có

Đồng thời, anh yêu cầu Toà án giải quyết vụ án vắng mặt.

* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 14, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình không công nhận chị L và anh Đ là vợ chồng. Đối với con chung, đề nghị giao cháu Nguyễn Nhất D cho chị L tiếp tục nuôi dạy, giao cháu Nguyễn Duy M cho anh Đ tiếp tục nuôi dạy, chị L, anh Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề nghị xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Chị L, anh Đ xác định không có, không ai yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Chị Nguyễn Thanh L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Đông Đ. Chị L, anh Đ xác định vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng hiện tại đã làm mất Giấy chứng nhận kết hôn. Chị L cho rằng khi đăng ký kết hôn chị không trực tiếp có mặt. Qua xác minh, bà Quách Kiều N xác định không có giữ Giấy chứng nhận kết hôn của chị L, anh Đ. Do các đương sự không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc có đăng ký kết hôn. Chị L, anh Đ từ trước đến nay chỉ sinh sống tại xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, căn cứ vào Công văn số 29/UBND ngày 21/02/2025 của Ủy ban nhân dân xã T xác định “Không có tên bà Nguyễn Thanh L trong bộ lưu kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã”, Hội đồng xét xử xác định chị L, anh Đ không đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc không công nhận vợ chồng; Anh Đ có địa chỉ tại ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Anh Đ có yêu cầu vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân: Chị L và anh Đ tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2015 nhưng không có đăng ký kết hôn. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị chưa tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống anh chị có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 luật Hôn nhân và gia đình nên không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Mặc dù, anh Đ không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị L nhưng qua xác minh thì quá trình chung sống chị L, anh Đ có phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi và đã sống ly thân khoảng 01 năm nay. Chị L cương quyết yêu cầu ly hôn với anh Đ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 14, Điều 53 luật Hôn nhân và gia đình không công nhận chị Nguyễn Thanh L và anh Nguyễn Đông Đ là vợ chồng.

[4] Về con chung: Thời gian chung sống anh chị có 02 người con chung là cháu Nguyễn Nhất D, sinh ngày 27/9/2015 (giới tính nam), đang do chị L nuôi dạy và cháu Nguyễn Duy M, sinh ngày 07/9/2020 (giới tính nam), đang do anh Đ nuôi dạy. Chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy cháu D, thống nhất giao cho anh Đ tiếp tục nuôi dạy cháu M. Đối với anh Đ thì yêu cầu nuôi cả hai con chung. Xét thấy, từ trước đến nay cháu D do chị L nuôi dạy, cháu M do anh Đ nuôi dạy, việc hoán đổi nuôi con sẽ làm ảnh hưởng đến tình cảm của các cháu. Chị L cũng thống nhất để cho anh Đ tiếp tục nuôi cháu M. Đối với cháy D, có nguyện vọng được chung sống với chị L. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu D cho chị L tiếp tục nuôi dạy, giao cháu M cho anh Đ tiếp tục nuôi dạy là phù hợp theo quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Chị L, anh Đ không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị L, anh Đ xác định anh chị không có nợ chung, về tài sản chung không ai yêu cầu giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thanh L phải chịu án phí theo Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 14, 53, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thanh L và anh Nguyễn Đông Đ là vợ chồng.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Nhất D, sinh ngày 27/9/2015 (giới tính nam) cho chị L tiếp tục nuôi dạy. Giao cháu Nguyễn Duy M, sinh ngày 07/9/2020 (giới tính nam) cho anh Đ tiếp tục nuôi dạy. Chị L không phải cấp dưỡng nuôi cháu M, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi cháu D.

    Chị L không trực tiếp nuôi cháu M, anh Đ không trực tiếp nuôi cháu D nhưng anh chị có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai được quyền cản trở.

  3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thanh L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 21 tháng 02 năm 2025 chị L có nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0016895 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đ vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Thới Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thới Bình;
  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Bảo Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về không công nhận vợ chồng

  • Số bản án: 84/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh Lan - Nguyễn Đông Đức: Không CN vợ chồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger