|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27-03-2025
“V/v: Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Trịnh Thị Hồng Thủy |
| Ông Nguyễn Việt Cường |
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bách Thiện Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 263/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXX-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/QĐ-ST ngày 05 tháng 03 năm 2025 giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1987
Căn cước công dân số: [...] do Cục Q1 về trật tự xã hội cấp ngày 18/1/2023. Hộ chiếu số C2351434 do Cục Q2 cấp ngày 5/10/2016. Nơi thường trú: Thôn B, xã L, huyện P, thành phố Hà Nội. Chị G có đơn xin vắng mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Huy G1, sinh năm 1985
Chứng minh nhân dân số [...] cấp ngày 02/10/2006. Hộ chiếu số N2368396. Nơi thường trú: Thôn B, xã L, huyện P, thành phố Hà Nội. Hiện ở: Đài Loan. Anh G1 vắng mặt.
Chị Nguyễn Thị G ủy quyền cho chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990 (Căn cước công dân số [...] do Cục QLHC về TTXH cấp ngày 04/05/2023) và chị Phạm Quỳnh A, sinh năm 2001 (Căn cước công dân số [...] do Cục C về TTXH cấp ngày 10/05/2021); Địa chỉ liên hệ: 201 T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội) giao, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Chị H có mặt, chị Quỳnh A vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn xin ly hôn và bản tự khai, chị Nguyễn Thị G trình bày:
- Về tình cảm: Tôi và anh Nguyễn Huy G1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, thành phố H cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 13/02/2006. Trong quá trình chung sống của vợ chồng chúng tôi chỉ hạnh phúc được một thời gian đầu, sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn cho đến nay ngày càng trở nên căng thẳng. Nguyên nhân chủ yếu là do tôi và anh G1 bất đồng quan điểm sống, tính cách của hai vợ chồng không thể hòa hợp, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn. Năm 2016, anh G1 xuất cảnh sang Đài Loan (Trung Quốc) theo diện xuất khẩu lao động. Do hai vợ chồng không sống cùng nhau nên mâu thuẫn ngày càng thường xuyên và trầm trọng. Mặc dù, tôi đã nhiều lần nói chuyện với mong muốn để hàn gắn, được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả, điều này ảnh hưởng đến cuộc sống của hai vợ chồng. Chúng tôi đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến hiện tại. Tôi cũng đã trao đổi với anh G1 về việc ly hôn nhưng anh G1 không hợp tác ký giấy tờ để hoàn tất thủ tục. Nay, tôi nhận thấy mâu thuẫn đã rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên tôi đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xem xét, giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Huy G1 để chúng tôi sớm ổn định cuộc sống của bản thân.
- Về con chung: Tôi và anh Nguyễn Huy G1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc B, sinh ngày 09/10/2006 và cháu Nguyễn Huy Toàn T, sinh ngày 30/04/2014. Hiện nay các cháu đang ở với mẹ đẻ tôi là bà Lê Thị T1 tại Thôn P, xã L, huyện P, Thành phố Hà Nội. Khi ly hôn, tôi đề nghị Tòa án giao các con cho tôi trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng các cháu đến khi trưởng thành. Trong thời gian tôi đang ở nước ngoài, tôi nhờ mẹ tôi chăm sóc các cháu đến khi tôi về nước. Việc cấp dưỡng nuôi con: Tôi không yêu cầu anh G1 phải cấp dưỡng nuôi con, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí ly hôn: Tôi tự nguyện chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn.
*Bị đơn là anh Nguyễn Huy G1: Theo biên bản ghi lời khai của ông Nguyễn Huy Q là bố đẻ của anh Nguyễn Huy G1 thì sau khi kết hôn, vợ chồng anh G1 sống tại nhà ông. Tới khoảng năm 2016, anh G1 đi Đài Loan làm việc. Lần gần nhất anh G1 về Việt Nam là tết năm 2022, anh G1 ăn tết xong thì đi Đài Loan làm việc luôn. Anh G1 không cho gia đình biết địa chỉ cụ thể tại Đài Loan. Anh G1 thường xuyên liên lạc về với ông Q qua Zalo. Ông Q cho biết, anh G1 có biết việc chị G làm đơn xin ly hôn tuy nhiên anh G1 không nói gì khác. Do anh G1 làm việc ở nước ngoài nên không thể về Việt Nam để giải quyết ly hôn được. Vợ chồng chị G, anh G1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc B, sinh ngày 09/10/2006 và cháu Nguyễn Huy Toàn T, sinh ngày 30/04/2014. Cháu B hiện đã trưởng thành, cháu T hiện đang ở với gia đình chị G. Ông Q có ý kiến về việc nuôi con do bố mẹ các cháu tự quyết định, ông không có ý kiến gì.
Ông Q đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và cam kết chụp để gửi cho anh G1 được biết thời gian tiến hành tố tụng của Tòa án.
*Tại Công văn số 9943/QLXNC-QLXC ngày 10/10/2024 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an thành phố H thể hiện: Anh Nguyễn Huy G1 xuất cảnh lần gần nhất là ngày 05/03/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
* Tại phiên tòa:
- Chị Nguyễn Thị G có đơn xin giải quyết vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong các bản tự khai. Chị Nguyễn Thị H nhận ủy quyền của chị G là giao, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Chị H cam kết sẽ có trách nhiệm gửi ngay để chị G được biết.
- Anh Nguyễn Huy G1 vắng mặt không có lý do. Chị G và gia đình anh G1 đều không biết địa chỉ cụ thể hiện nay của anh G1 nên không cung cấp cho Tòa án được. Tòa án đã gửi thông báo các buổi làm việc của Tòa án theo thời gian đã được thể hiện trong thông báo thời gian tiến hành các hoạt động tố tụng thông qua ông Q là bố của anh G1 để thông báo cho anh G1. Ông Q chỉ liên lạc được với anh G1 qua điện thoại và hình ảnh trên Zalo nên đã đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án để thông báo cho anh G1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Do anh Nguyễn Huy G1 đang làm việc ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Trong quá trình giải quyết Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Huy G1 đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, thành phố H vào ngày 13/2/2006. Xét cuộc sống chung vợ chồng không có, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng ly thân đã lâu vợ chồng không có biện pháp giải quyết nên yêu cầu xin ly hôn của chị G là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc B, sinh ngày 09/10/2006 và cháu Nguyễn Huy Toàn T, sinh ngày 30/4/2014. Cháu B đã trưởng thành nên đề nghị HĐXX không xem xét. Ly hôn, chị G xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không yêu cầu anh G1 phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Về án phí: Chị G phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
- [1] Về thủ tục tố tụng:
- [1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị G có đơn xin ly hôn với anh Nguyễn Huy G1 do anh G1 đang làm việc tại Đài Loan nên theo quy định tại khoản 3 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- [1.3] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, chị G có đơn xin vắng mặt, anh G1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng thông qua gia đình và niêm yết các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị G, anh G1 theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, chị G không cung cấp được địa chỉ của anh G1 tại Đài Loan. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã yêu cầu chị G và gia đình anh G1 cung cấp địa chỉ, nhưng chị G và gia đình anh G1 không cung cấp được. Ông Nguyễn Huy Q là bố đẻ anh G1 xác định anh G1 vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình và biết việc chị G muốn ly hôn với anh G1, ông đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án để thông báo cho anh G1. Anh G1 không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tiến hành giải quyết vụ án theo quy định.
- [2] Về nội dung:
- [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Huy G1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, thành phố H vào ngày 13/2/2006 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị G xác định vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị G trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Vợ chồng không còn chung sống cùng nhau từ năm 2014. Nay chị G xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh G1. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa anh G1 và chị G đã trầm trọng, anh chị không còn yêu thương, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2014 đến nay, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận cho chị G được ly hôn anh G1 là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- [2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Huy G1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc B, sinh ngày 09/10/2006 và cháu Nguyễn Huy Toàn T, sinh ngày 30/04/2014. Cháu B đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét. Hiện cháu T đang ở với gia đình chị G. Sau khi ly hôn, chị G xin được nuôi cháu T. Anh G1 không có quan điểm về việc nuôi con. Xét thấy hiện cháu T đang sinh sống ổn định cùng gia đình chị G và có nguyện vọng ở cùng với mẹ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho các con, cần giao cháu T chị G là phù hợp. Trong thời gian chị G chưa về nước, tạm giao cháu T cho bà T1 là mẹ đẻ của chị G chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị G về nước. Chị G không yêu cầu anh G1 cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
- [2.3] Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
- [4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- 1. Về tình cảm: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị G đối với anh Nguyễn Huy G1. Chị Nguyễn Thị G được ly hôn anh Nguyễn Huy G1.
- 2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Huy Toàn T, sinh ngày 30/04/2014 cho chị Nguyễn Thị G được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ tháng 03/2025 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Trong thời gian chị G chưa về nước, tạm giao cháu T cho bà Lê Thị T1 (mẹ đẻ) của chị G chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị G về nước. Chị G không yêu cầu anh G1 cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét. Anh G1 có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản. Cháu Nguyễn Thị Ngọc B, sinh ngày 09/10/2006 đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét.
- 3. Về tài sản chung, công nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xét.
- 4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0023903 ngày 03 tháng 10 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Chị G đã nộp đủ án phí.
- 5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị G có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ. Anh Nguyễn Huy G1 được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 30 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bạch Tuyết |
Bản án số 84/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 84/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị G - Nguyễn Huy G
