TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 23 - 6- 2025.
V/v ly hôn giữa chị T và anh H.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dương.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Dương Thị Vui.
- Ông Lê Đức Chạc.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2025/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025. Về tranh chấp xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025 giữa:
- + Nguyên đơn: Chị Lò Thị T, sinh năm 2001.
- + Bị đơn: Anh Chíu A H, sinh năm 2000.
Địa chỉ: Tổ dân phố F, thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định.
Địa chỉ: Tổ dân phố F, thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa có mặt chị T và anh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Lò Thị T trình bày: Chị kết hôn với anh C A H vào tháng 02/2020 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân và anh H sống không chung thủy với chị. Mặc dù chị đã khuyên bảo nhưng anh H vẫn không thay đổi vì vậy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Đến tháng 3/2025 thì vợ chồng chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh H không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Chíu A H.
Về con chung: Giữa chị và anh H có một con chung là cháu Chíu Văn M, sinh ngày 25/8/2019. Hiện cháu M đang do anh H chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn chị đề anh H trực tiếp nuôi cháu M và chị không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí chị đề nghị giải quyết theo quy định.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn anh Chíu A H trình bày: Anh kết hôn với chị Lò Thị T vào tháng 02/2020 kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống và anh có sống không chung thủy với chị T. Sau đó chị T đã nhắc nhở và anh đã thay đổi. Vợ chồng anh sống ly thân từ tháng 3/2025 cho đến nay. Nay chị T xin ly hôn anh thì anh không nhất trí ly hôn vì anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn và con còn nhỏ, anh mong muốn chị T suy nghĩ lại về đoàn tụ với gia đình.
Về con chung: Giữa anh và chị T có một con chung là cháu Chíu Văn M, sinh ngày 25/8/2019. Hiện cháu M đang do anh chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn anh xin nhận trực tiếp nuôi cháu M và không yêu cầu chị T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Lò Thị T và anh C A H hiện đang cư trú tại thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định. Nay chị Lò Thị T xin ly hôn anh C A Hiện thì Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Lò Thị T và anh C A H vào tháng 02 năm 2020 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chống bất đồng về quan điểm không hiểu nhau, anh H sống không chung thủy với chị T. Đến tháng 3/2025 thì vợ chồng chị T anh H sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng giải quyết vợ chồng được ly hôn. Phía anh H không nhất trí ly hôn vì anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn và con còn nhỏ, anh mong muốn chị T suy nghĩ lại về đoàn tụ với gia đình.
Hội đồng xét xử thấy: Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh H đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị xin ly hôn anh H nên chấp nhận là phù hợp với điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị Lò Thị T và anh Chíu A H đều thống nhất xác định vợ chồng có một con chung là cháu Chíu Văn M, sinh ngày 25/8/2019. Hiện cháu M đang do anh H chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn chị T anh H đều thống nhất giao cháu M cho anh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H. Thấy việc thỏa thuận của chị T và anh H là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên chấp nhận.
[4] Về tài sản chung: Chị Lò Thị T và anh C A Hiện đều thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí chị Lò Thị T phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Xử ly hôn giữa chị Lò Thị T và anh Chíu A H.
- Về con chung: Xử giao cháu Chíu Văn M, sinh ngày 25/8/2019 cho anh C A Hiện trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Lò Thị T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H. Không ai được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm nom con chung.
- Án phí dân sự sơ thẩm chị Lò Thị T phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị chị đã nộp theo biên lai số: 0001647 ngày 16/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Người có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Dương |
Bản án số 84/2025/HNGĐ - ST ngày 23/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn
- Số bản án: 84/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị T và anh H
