TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 84/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21/11/2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Huy Bình
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Sỹ Đàn và ông Ngô Đăng Ký
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Na - Kiểm sát viên.
Vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 21 tháng 11 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 3- Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXX-ST ngày 31 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975
Số CCCD: [...], ngày cấp 30/5/2022; nơi cấp: Cục Q về TTXH.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Quang K, sinh năm 1968
Số CCCD: [...], ngày cấp 04/5/2021; nơi cấp: Cục Q về TTXH.
Cùng có địa chỉ tại: Thôn T, xã G, tỉnh Hà Tĩnh.
(Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bị đơn ông Nguyễn Quang K qua thời gian tự do tìm hiểu, yêu đương đã tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương năm 1991 và sống chung từ đó đến nay tại xóm P, xã V, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (nay là thôn T, xã G, tỉnh Hà Tĩnh). Tuy nhiên, ông bà không thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Sau khi tổ chức lễ cưới, ông bà sinh sống tại xóm P, xã V, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (nay là thôn T, xã G, tỉnh Hà Tĩnh). Quá trình sống chung, nguyên đơn và bị đơn hoà thuận đến năm 2010 thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hay cãi vã nên ly thân từ đó đến nay.
Nhận thấy, đời sống chung không thể kéo dài và việc ông bà không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn là trái quy định pháp luật nên bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố nguyên đơn và bị đơn không phải vợ chồng.
Về quan hệ con chung: Quá trình sống chung nguyên đơn và bị đơn không có con chung.
Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng gồm Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra giao nộp công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho nguyên đơn, bị đơn. Sau khi nhận quyết định cả nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
Do bị đơn vắng mặt nên Tòa án tiến hành giải quyết vụ án và mở phiên tòa xét xử để giải quyết yêu cầu của nguyên đơn vắng mặt bị đơn theo các quy định tại các Điều 177, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238, Điều 277 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 8 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình (viết tắt: Nghị quyết số 35); khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 01/6/2016 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp Hướng dẫn thi thành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2014/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị HĐXX: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Quang K. Về con chung, tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu nên miễn xét. Nguyên đơn phải chịu án phí, các đương sự thực hiện quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh nhận định:
[1] Về tố tụng: Căn cứ quy định tại khoản 8 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành giao nhận văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn theo quy định tại khoản 5 Điều 177 BLTTDS nhưng bị đơn không có mặt theo thông báo, nên tiến hành phiên họp kiểm tra chứng cứ vắng mặt bị đơn và thông báo kết quả cho bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 210 BLTTDS.
Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Quang K: Căn cứ biên bản xác minh ngày 08/10/2025, Ủy ban nhân dân xã G, tỉnh Hà Tĩnh xác nhận các đương sự có cư trú tại địa phương và chung sống với nhau nhưng không có thông tin đăng ký kết hôn của các đương sự. Do đó, trên cơ sở lời khai của đương sự, các chứng cứ đã được thẩm định, đủ cơ sở để khẳng định giữa bà T và ông K có quá trình sống chung như vợ chồng nhưng không thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chỉ tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán phù hợp với thực tế tại địa phương vào năm 1991.
[2.2] Theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 (Luật có hiệu lực tại thời điểm các đương sự sống chung) quy định: “Điều 8: Việc kết hôn do UBND xã, phường, thị trấn, nơi thư ờng trú của một trong hai người kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy định.
...
Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý”.
[2.3] Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (Luật có hiệu lực tại thời phát sinh yêu cầu) quy định: “Điều 9: Đăng ký kết hôn: 1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của luật này và pháp luật của hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.
“Điều 14.Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.
1. N, nữ có đủ diều kiện kết hôn theo quy định của luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.
Như vậy, nguyên đơn và bị đơn có thời gian chung sống như vợ chồng, có làm đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn nên không phát sinh các quyền, ngĩa vụ giữa vợ và chồng do không được pháp luật hôn nhân và gia đình công nhận.
Nay nguyên đơn làm đơn yêu cầu không công nhận là vợ chồng và xin ly hôn, HĐXX cần căn cứ Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, 2014; điểm b,c khoản 3 Nghị quyết 35/2000 QH10; khoản 4 Điều 3 TTLT số 01/2016/TTLT-TATC-VKSTC-BTP ngày 01 tháng 6 năm 2016 hướng dẫn Luật hôn nhân và gia đình: Tuyên bố không công nhận là vợ chồng giữa các đương sự là phù hợp.
[4]. Về con chung: Không có con chung nên miễn xét.
[5]. Về tài sản, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên miễn xét.
[6]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 8 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự; Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm b, c khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 01/6/2016 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp Hướng dẫn thi thành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T. Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Quang K.
- Về quan hệ con chung, tài sản chung, nợ chung không xem xét.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000150 ngày 07/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Tiền án phí bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký đóng dấu) Phạm Huy Bình |
Bản án số 84/2025/HNGĐ-ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 84/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không công nhận vợ chồng
