|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
|
Bản án số: 84/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20-6-2025 V/v: Ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Thiệp, bà Lý Thị Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 188/2025/TLST-HNGĐ ngày 06-5-2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04-6-2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 129/2025/QÐST-HNGĐ ngày 19-6-2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Anh Lường Đức H, sinh năm 2001. (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Bản T, xã PL, huyện TC, tỉnh Sơn La.
-
Bị đơn: Chị Hà Thị T, sinh năm 2004. (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Bản T, xã PL, huyện TC, tỉnh Sơn La.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lường Đức H trình bày:
Về hôn nhân: Anh Lường Đức H và chị Hà Thị T kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 26/4/2022 tại Ủy ban nhân dân xã CB, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc. Vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn kéo dài, hai bên gia đình đã hòa giải không thành, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2024, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Nay anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh yêu cầu giải quyết ly hôn với chị Hà Thị T.
Về con chung: Anh Lường Đức H và chị Hà Thị T có 01 con chung là cháu Lường Đức M, sinh ngày 27/01/2022. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, cháu Lường Đức M ở với anh Lường Đức H.
Anh H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lường Đức M.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Lường Đức H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt với nội dung: Anh H giữ nguyên ý kiến như trình bày trong đơn khởi kiện, bản tự khai và yêu cầu miễn án phí.
Trong đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn chị Hà Thị T trình bày như sau:
Về hôn nhân: Chị Hà Thị T nhất trí ly hôn với anh Lường Đức H.
Về con chung: Chị Hà Thị T và anh Lường Đức H có 01 con chung là cháu Lường Đức M, sinh ngày 27/01/2022. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, cháu Lường Đức M ở với anh Lường Đức H.
Chị T nhất trí để anh Lường Đức H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lường Đức M.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Căn cứ khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng và điều kiện nuôi con tại địa chỉ nơi cư trú của các đương sự:
Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương ngày 21/5/2025 xác định: Chị Hà Thị T và anh Lường Đức H kết hôn hợp pháp, chung sống với nhau tại Bản T, xã PL, huyện TC, tỉnh Sơn La. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn gia đình nên đã sống ly thân, nguyên nhân mâu thuẫn không nắm rõ. Anh H và chị T có 01 con chung đang ở với anh H từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay. Anh H có khả năng và điều kiện nuôi con.
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng đầy đủ tư cách tham gia tố tụng, tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn, tống đạt đầy đủ hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Viện kiểm sát đề nghị:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lường Đức H được ly hôn với chị Hà Thị T.
Về con chung: Giao cháu Lường Đức M, sinh ngày 27/01/2022 cho anh Lường Đức H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Hà Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho anh Lường Đức H theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn anh Lường Đức H yêu cầu ly hôn với bị đơn chị Hà Thị T có địa chỉ nơi cư trú tại Bản T, xã PL, huyện TC, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn anh Lường Đức H, bị đơn chị Hà Thị T vắng mặt tại phiên toà đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lường Đức H và chị Hà Thị T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không ai bị ép buộc, được Ủy ban nhân dân xã CB, huyện TC, tỉnh Sơn La cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, anh H và chị T là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh H, chị T chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hai bên gia đình đã hòa giải cho vợ chồng nhưng không thể hàn gắn. Chị T và anh H đã sống ly thân từ năm 2024 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Tình cảm vợ chồng không còn, anh H yêu cầu ly hôn với chị Hà Thị T. Chị T nhất trí ly hôn với anh Lường Đức H.
Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai của đương sự và tại phiên tòa cho thấy cuộc sống chung vợ chồng của anh H và chị T không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài, nguyên nhân do mâu thuẫn gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không thành, đã sống ly thân được một thời gian dài không ai quan tâm đến cuộc sống của ai dẫn đến tình cảm vợ chồng xa cách, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc.
Từ các căn cứ nêu trên cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng anh H và chị T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho anh Lường Đức H ly hôn với chị Hà Thị T.
[3] Về con chung: Anh Lường Đức H và chị Hà Thị T có 01 con chung: Cháu Lường Đức M, sinh ngày 27/01/2022. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, cháu Lường Đức M ở với anh Lường Đức H.
Anh Lường Đức H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lường Đức M. Chị Hà Thị T nhất trí với ý kiến của anh Lường Đức H.
Hội đồng xét xử xét thấy: Ý kiến của anh Lường Đức H và chị Hà Thị T đều đồng nhất giao cháu Lường Đức M cho anh Lường Đức H trực tiếp nuôi dưỡng con. Anh H có nơi ở ổn định, có công việc và thu nhập. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh H đảm bảo được điều kiện nuôi dưỡng con về mọi mặt. Do đó cần chấp nhận ý kiến của các đương sự, giao cháu Lường Đức M cho anh Lường Đức H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hà Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do không ai yêu cầu.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Lường Đức H và chị Hà Thị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[5] Về án phí: Nguyên đơn anh Lường Đức H là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện – kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có yêu cầu miễn án phí. Do đó, miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho anh Lường Đức H. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lường Đức H được ly hôn với chị Hà Thị T.
-
Về con chung: Giao cháu Lường Đức M, sinh ngày 27/01/2022 cho anh Lường Đức H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động) hoặc đến khi có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hà Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do không ai yêu cầu.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Lường Đức H và chị Hà Thị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó không xem xét giải quyết trong vụ án. Trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho anh Lường Đức H.
- Về quyền kháng cáo: Anh Lường Đức H, chị Hà Thị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nông Văn Thịnh |
Bản án số 84/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 84/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giải quyết ly hôn, nuôi con chung
