Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2025/HNGĐ-ST

Ngày 14-11-2025

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân.

1. ông Đặng Ngọc Tân

2. ông Đỗ Gia Khải.

- Thư ký phiên toà: ông Trần Trung Đức - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Lân - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 146/2025/TLST- HNGĐ, ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2025/QĐXX-ST ngày 30 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Trần Thị Hồng A, sinh năm 2005

Nơi ĐKHKTT: thôn M, xã H, tỉnh Hưng Yên

Nơi ở hiện nay: thôn T, quận A, thành phố Hải Phòng - xin vắng mặt.

2. Bị đơn: anh Đỗ Mạnh H, sinh năm 1998

Địa chỉ: thôn M, xã H, tỉnh Hưng Yên

Hiện anh H đang cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện số 2, tỉnh Hưng Yên - xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Trần Thị Hồng A trình bày:

Về hôn nhân: chị và anh Đỗ Mạnh H tổ chức cưới theo phong tục tập quán địa phương vào năm 2022 do đôi bên tự nguyện tìm hiểu (do thời gian này chị chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn), đến ngày 08-6-2023 mới thực hiện đăng ký kết tại trụ sở Uỷ ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình (nay là xã H, tỉnh Hưng Yên). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 01 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do chị biết anh H sử dụng chất ma túy nên dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống, hay xảy ra cãi nhau. Mâu thuẫn căng thẳng nhất vào tháng 10 năm 2024, vợ chồng không còn tình cảm, sống ly thân từ đó đến nay. Tháng 02 năm 2025, anh H bị đưa đi cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về nuôi con chung: chị và anh H có 01 con chung là Đỗ Minh Q, sinh ngày 26-9-2022. Nếu ly hôn chị xin trực tiếp được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh H góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về chia tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì công việc bận nên chị đề nghị Tòa án cho chị xin được vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án ly hôn giữa chị và anh H.

Tại bản tự khai và đơn đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt, bị đơn anh Đỗ Mạnh H trình bày:

Về hôn nhân: anh và chị Trần Thị Hồng A tổ chức cưới theo phong tục tập quán địa phương vào năm 2022 do đôi bên tự nguyện tìm hiểu (do thời gian này chị A chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn), đến ngày 08-6-2023 mới thực hiện đăng ký kết tại trụ sở UBND xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình (nay là xã H, tỉnh Hưng Yên). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 4 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày. Mâu thuẫn căng thẳng nhất vào tháng 10 năm 2024, vợ chồng không khắc phục được, sống ly thân từ đó đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị A có đơn khởi kiện xin ly hôn, anh nhất trí.

Về nuôi con chung: anh và chị A có có 01 con chung là Đỗ Minh Q, sinh ngày 26-9-2022. Nếu ly hôn anh để chị A trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không góp cấp dưỡng nuôi con cùng chị A. Nếu chị A không nuôi con anh xin được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu chị A góp cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

Về chia tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện nay anh đang cai nghiện tập trung tại cơ sở cai nghiện ma túy số 2 nên đề nghị Tòa án cho anh xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án ly hôn giữa anh và chị A.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên phát biểu quan điểm về nội dung giải quyết vụ án: trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định, các đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Trần Thị Hồng A và anh Đỗ Mạnh H. Về nuôi con chung: xử giao cho chị A được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đỗ Minh Q, sinh ngày 26-9-2022; anh H không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị A. Về chia tài sản chung: không giải quyết. Về án phí: chị Trần Thị Hồng A phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết và tố tụng: chị Trần Thị Hồng A khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh Đỗ Mạnh H, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên.

Chị A và anh H xin vắng mặt nên Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Hưng Yên tiến hành xét xử vắng mặt chị A và anh H theo quy tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: chị Trần Thị Hồng A kết hôn với anh Đỗ Mạnh H tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình (nay là xã H, tỉnh Hưng Yên) vào ngày 08-6-2023, là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hòa thuận, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày, chị A và anh H không khắc phục được đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2024 đến nay. Hội đồng xét xử thấy chị A và anh H mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh H, anh H nhất trí ly hôn. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị A, xử cho chị A được ly hôn anh H là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về nuôi con chung: chị A và anh H có 01 con chung là Đỗ Minh Q, sinh ngày 26-9-2022. Chị A và anh H đều thống nhất nếu ly hôn cháu Q do chị A trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị A. HĐXX thấy cháu A còn nhỏ, để đảm bảo về mọi mặt cho con chung cần giao cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng con chung và chấp nhận sự tự nguyện nuôi con hoàn toàn của chị A, không yêu cầu anh H góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị A là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về chia tài sản: chị A và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, tỉnh Hưng Yên về nội dung giải quyết vụ án phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Về án phí: chị A phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Trần Thị Hồng A và anh Đỗ Mạnh H.

2.Về nuôi con chung: Xử giao cho chị Trần Thị Hồng A trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đỗ Minh Q, sinh ngày 26-9-2022. Anh Đỗ Mạnh H không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị A, anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3. Về chia tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí: chị Trần Thị Hồng A phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị A đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001620 ngày 01-10-2025 của Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8 - Hưng Yên (chị A đã nộp đủ).

5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Hồng A và anh Đỗ Mạnh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án ND tỉnh Hưng Yên;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Hưng Yên;
  • - Viện kiểm sát ND Khu vực 8;
  • - THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - UBND xã Hưng Hà;
  • - Lưu hồ sơ HC - TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2025/HNGĐ-ST ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 84/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Hồng A - Đỗ Mạnh H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger