|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09/6/2025
Về việc ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Nở
Ông Nguyễn Ngọc Ngân
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Tú Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1091/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Kim O, sinh năm: 1993.
Địa chỉ: Tổ I, thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thành S, sinh năm: 1989.
Nơi cư trú: Tổ dân phố M, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Chỗ ở hiện nay: Tổ I, thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đỗ Thị Kim O trình bày:
Bà Đỗ Thị Kim O và ông Nguyễn Thành S tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, thành phố N cấp giấy chứng nhận kết hôn số 32 ngày 03/4/2017.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính cách vợ chồng không hợp và ông S không có trách nhiệm với gia đình. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vã và ông S bạo lực đánh đập vợ, xúc phạm bố mẹ vợ. Tình trạng trên kéo dài nhiều năm. Mặc dù đã cố gắng hàn gắn nhưng tình trạng hôn nhân rất trầm trọng nên không thể tiếp tục sống chung. Vì vậy, bà Đỗ Thị Kim O yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thành S.
Về con chung: Bà Đỗ Thị Kim O và ông Nguyễn Thành S có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh ngày 06/7/2017 và Nguyễn Ngọc Tuệ N, sinh ngày 12/6/2019. Bà O yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Thanh T và giao cháu Nguyễn Ngọc Tuệ N cho ông S nuôi dưỡng theo nguyện vọng của ông S. Bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đỗ Thị Kim O và ông Nguyễn Thành S không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Thành S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thành S không đồng ý ly hôn, vì vợ chồng ông trước đến nay chỉ xảy ra mâu thuẫn lặt vặt. Bà O ngoại tình và đã dắt con là Nguyễn Ngọc Tuệ N bỏ nhà đi. Ông S chỉ đồng ý ly hôn trong trường hợp bà O để ông nuôi hai con.
Về con chung: Trong trường hợp ly hôn thì ông Nguyễn Thành S yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung và ông không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu: Tòa án đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện về ly hôn của nguyên đơn. Về án phí, nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét ý kiến trình bày của đương sự và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Theo xác nhận của Ủy ban nhân dân xã V, thành phố N, bị đơn ông Nguyễn Thành S không đăng ký thường trú, tạm trú tại xã V nhưng thực tế đang cư trú tại tổ I, thôn P, xã V, thành phố N (BL số 10). Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Thành S trình bày đã về nhà bố mẹ đẻ ở tại tổ dân phố M, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa nhưng Tòa án tiến hành xác minh thì ông S không cư trú tại đây. Tòa án tiến hành tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì ông S vẫn ở tại địa chỉ tổ I, thôn P, xã V, thành phố N và từ chối nhận quyết định (BL số 40). Điều này chứng minh ông Nguyễn Thành S cư trú tại tổ I, thôn P, xã V, thành phố N nên Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Thành S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Thành S theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Kim O và ông Nguyễn Thành S tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã V, thành phố N cấp giấy chứng nhận kết hôn số 32 ngày 03/4/2017 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên đơn bà Đỗ Thị Kim O trình bày do tính cách vợ chồng không hợp nên phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cải vã và ông S bảo lực đánh đập vợ. Tình trạng trên kéo dài nhiều năm. Nay bà Đỗ Thị Kim O yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Thành S với lý do tình trạng hôn nhân rất trầm trọng nên không thể tiếp tục sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được. Bị đơn ông Nguyễn Thành S trình bày ông không đồng ý ly hôn, vì vợ chồng ông trước đến nay chỉ xảy ra mâu thuẫn lặt vặt.
Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa bà Đỗ Thị Kim O và ông Nguyễn Thành S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, bà O đã bỏ nhà đi. Nếu cứ tiếp tục duy trì cuộc sống gia đình thì cũng không đem lại hạnh phúc cho đôi bên và mục đích hôn nhân không đạt được. Ông S cũng thừa nhận trong khi vợ chồng cải nhau thì có xảy ra xô xát. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà Đỗ Thị Kim O là có căn cứ nên được chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Bà Đỗ Thị Kim O và ông Nguyễn Thành S có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh ngày 06/7/2017 và Nguyễn Ngọc Tuệ N, sinh ngày 12/6/2019. Bà O yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Thanh T. Tại Bản tự khai ngày 20/12/2024, ông S trình bày ông yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Ngọc Tuệ N nhưng sau đó ông thay đổi ý kiến, yêu cầu được nuôi 02 con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy bà O và ông S sau khi ly hôn đều không có nhà ở riêng nhưng có công việc và thu nhập ổn định nên có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; ông S cũng yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Tuệ N. Nên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà O về việc giao cháu Nguyễn Ngọc Thanh T cho bà O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Nguyễn Ngọc Tuệ N cho ông S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
[2.3] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Đỗ Thị Kim O và ông Nguyễn Thành S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đỗ Thị Kim O và ông Nguyễn Thành S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không giải quyết.
[3] Về án phí: Bà Đỗ Thị Kim O phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Kim O được ly hôn ông Nguyễn Thành S.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh ngày 06/7/2017 cho bà Đỗ Thị Kim O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Nguyễn Ngọc Tuệ N, sinh ngày 12/6/2019 cho ông Nguyễn Thành S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn.
Bà Đỗ Thị Kim O và ông Nguyễn Thành S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, bà Đỗ Thị Kim O và ông Nguyễn Thành S có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà Đỗ Thị Kim O và ông Nguyễn Thành S không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Sau này có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
- Về án phí: Bà Đỗ Thị Kim O phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003366 ngày 29/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Như vậy, bà Đỗ Thị Kim O đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- TAND tỉnh Khánh Hòa;
- VKSND thành phố Nha Trang;
- Cục T2;
- UBND xã V;
- Lưu: hồ sơ vụ án, án văn.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Vũ Văn Nở Nguyễn Ngọc N1 | Phạm Thị Ánh Tuyết |
Bản án số 84/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn
- Số bản án: 84/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án về việc ly hôn
