TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ Bản án số 84/2025/DS-ST Ngày: 24/06/2025 V/v: Tranh chấp QSDĐ bị lấn chiếm Giữa ông Hằng, bà Thuận và ông Thiện, bà Nhạc | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ———————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán, chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Quân
Hội hội thẩm nhân dân: Ông Lê Như Hạnh
Ông Nguyễn Trọng Thuý
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Minh Sơn - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Chuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 52/2024/TLST- DSST ngày 01 tháng 04 năm 2025. về việc " Tranh chấp quyền sử dụng đất bị lấn chiếm". Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐST/DS ngày 15 tháng 04 năm 2025; và các Quyết định hoãn phiên toà giữa:
- Nguyên đơn: Anh Quách Văn H; Sinh năm: 1983; Chị Bùi Thị T; Sinh năm: 1988; Cùng địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện T, Thanh Hóa. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1; Sinh năm: 1964; Bà Quách Thị N; Sinh năm: 1966; Cùng địa chỉ: M, xã T, huyện T, Thanh Hóa. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T (Nay là Sở Nông nghiệp và môi trường)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Cao Văn C – Giám đốc
Địa chỉ: A, H, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Văn Đ – Phó Giám đốc chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T. (vắng mặt)
2. Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Sỹ H1 – Chủ tịch UBND xã T.Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 24/03/2023 và các tài liệu chứng cứ cũng như tại phiên tòa nguyên đơn là ông Quách Văn H và bà Bùi Thị T trình bày:
Tháng 8/2022 vợ, chồng tôi nhận chuyển nhượng của bà Bùi Thị Y diện tích đất 4359 m² tại thửa đất số 29, tờ bản đồ số 02 tại thôn M, xã T, huyện T, khi mua bán bà Y1 đã bàn giao mốc giới thửa đất cho vợ chồng chúng tôi. Ngày 01/8/2022 vợ, chồng tôi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 29, tờ bản đồ số 02 diện tích thửa đất là 4359 m². Quá trình sử dụng đất ông Nguyễn Văn T1 và bà Quách Thị N đã cố tình lấn chiếm đất của vợ, chồng tôi. Cụ thể ông T1, bà N lấn chiếm phần đất phía Tây của thửa đất vợ, chồng tôi giáp với đất nhà ông T1, bà N. Phần lấn chiếm có diện tích khoảng 2000 m² cụ thể nhiều nhất là phần đất giáp đường liên thôn lấn chiếm 23m kéo dài xuống phía Bắc của thửa đất thành hình tam giác. Trên phần diện tích đất lấn chiếm của gia đình tôi ông T1, bà N đã trồng cây cối, hoa màu trên đất, chúng tôi yêu cầu ông bà thu dọn hoa màu trả lại đất cho gia đình tôi sử dụng nhưng ông bà không đồng ý. Đến nay, chúng tôi yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn T1 và bà Quách Thị N phải di chuyển cây cối ra khỏi phần đất lấn chiếm và trả lại phần đất lấn chiếm cho vợ chồng tôi, diện tích đất là 2000m² ở phía Tây của thửa đất số 29, tờ bản đồ số 02.
Ngày 18/01/2024 ông H, bà T có đơn đề nghị hủy một phần tờ bản đồ địa chính số 07 xã T, huyện T được Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt ngày 12/11/2008.
Nay Nguyên đơn yêu cầu cụ thể phần lấn chiếm theo biên bản thẩm định và sơ đồ hiện trạng ngày 27/8/2023 có chiều dài giáp đường liên thôn là 27,3 m kéo dài xuống phía Bắc của thửa đất trên thửa đất gia đình ông T1 và bà N có diện tích là 996,8m². Thực tế theo Giấy chứng nhận tôi chỉ yêu cầu theo kích thước của bản đồ năm 2003 cấp Giấy chứng nhận là 48,2m mặt đường. Thực tế gia đình ông bà đang sử dụng 25,1m, phần diện tích đang chồng lấn 27,3m. Đề nghị toà án buộc ông Nguyễn Văn T1 và bà Quách Thị N thu dọn hoa màu là cây xả để trả lại diện tích đất lấn chiếm là 996,8m² cho gia đình anh chị sử dụng theo pháp luật.
* Ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Văn T1, bà Quách Thị N: Mảnh đất hiện tại gia đình chúng ông bà đang ở và sử dụng có nguồn gốc do gia đình khai hoang từ tháng 8/1988. Thửa đất gia đình anh H mua của bà Y hiện nay có nguồn gốc đất trước đó là anh N1 (Đã chết) quản lý sử dụng không có tranh chấp gì đã để lại cho bà Y quản lý, sử dụng. Từ khi gia đình ông bà và gia đình bà Y sinh sống đến nay hai gia đình sử dụng thửa đất với diện tích đất thực tế hiện nay đang sử dụng ổn định, không có tranh chấp. Thửa đất của gia đình ông bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu ngày 02/12/2006. Từ khi được cấp giấy đến nay gia đình ông bà không chuyển nhượng, tặng cho ai. Ông bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh H, chị T vì trên thực tế gia đình ông bà đã khai hoang và sử dụng diện tích đất đang tranh chấp để trồng các cây nông nghiệp ngắn ngày từ trước đến nay ổn định và không có ai tranh chấp gì. Tôi đề nghị Tòa án xác định diện tích đất tranh chấp là của gia đình ông bà.
- Ý kiến của người làm chứng là bà Bùi Thị Y trình bày: Bà có mảnh đất tại thửa đất số 29 tờ bản đồ số 02 ở thôn M, xã T diện tích 4359m² trong đó có 400m² là đất ở còn lại là đất vườn đã được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22/12/2006, nguồn gốc đất có được từ khi bà còn bé, bố mẹ bà khai hoang và được bố mẹ bà cho để ở. Khi cấp Giấy CNQSDĐ thì hàng xóm cạnh nhà bà có nhà ông T1, bà N và nhà anh N2, chị V. Bà ở trên đất đó trên 20 năm cạnh tác trồng rau màu. Bên cạnh nhà các hộ cũng canh tác trồng rau màu và mía. Bà hay đi làm xa không có ở nhà nên nhà đất để không. Phía đất nhà ông T1 và bà N cao hơn phần đất nhà bà nên ông bà có canh tác sang diện tích đất của gia đình bà diện tích bao nhiêu bà không biết, các hộ không có hàng rào cụ thể bằng bê tông cốt thép mà chỉ có vạt đất. Trên đất trước khi bà bán cho nhà anh H, chị T thì trên đất có trồng xã và các cây màu khác. Năm 2023 bà cần tiền xử lý công việc gia đình nên có bản thửa đất số 29 tờ bản đồ số 02 ở thôn M, xã T diện tích 4359m² trong đó có 400m² là đất ở còn lại là đất vườn đã được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22/12/2006 cho ông Quách Văn H, bà Bùi Thị T, hai bên đã thanh toán đầy đủ tiền với nhau không ai còn nợ nần gì ai và anh H, chị T cũng đã được đăng ký biến động sang tên quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Từ khi được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ đến khi bà bán cho anh H, chị T thì bà vẫn quản lý thửa đất trên với diện tích 4359m² không mua bán đổi chác cho ai, không thỏa thuận cho bà N và ông T1 mượn đất của gia bà. Khi mua bản đất bà đã bàn giao mốc giới cho anh H, chị T đầy đủ, không hiểu sao khi anh chị tiếp quản sử dụng đất gia đình ông N lại cản trở tranh chấp. Kính đề nghị tòa án xem xét giải quyết đúng diện tích, mốc giới khi bà bản cho anh H, chị T bảo vệ quyền lợi cho các người dân. Ngoài ra bà không cung cấp thêm nội dung nào khác. Đề nghị tòa án không đưa bà vào người liên quan trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị tòa án giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự.
-Ý kiến của Sở N trình bày: Ông Quách Văn H có đơn đề nghị hủy một phần tờ bản đồ địa chính số 07 xã T, huyện T được Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt ngày 12/11/2008. Sau khi xem xét, Sở T có ý kiến như sau: Tại điểm 1.1 và điểm 1.2 khoản 1 Điều 17 Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T5 và Môi trường quy định về bản đồ địa chính quy định: Việc chỉnh lý bản đồ địa chính thực hiện trong các trường hợp: xuất hiện thửa đất và các đối tượng chiếm đất, thay đổi ranh giới thửa đất và các đối tượng chiếm đất, thay đổi diện tích thửa đất, mục đích sử dụng đất, thông tin tình trạng pháp lý của thửa đất, mốc giới, địa giới hành chính các cấp, điểm tọa độ địa chính, điểm tạo độ quốc gia, mốc giới và hành lang an toàn công trình, địa danh và các ghi chú trên bản đồ. Cơ sở để quyết định thực hiện chỉnh lý bản đồ địa chính: các thay đổi về ranh giới thửa đất, diện tích thửa đất, mục đích sử dụng đất được thực hiện trong các trường hợp: có quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất của cấp có thẩm quyền; quyết định của Ủy ban nhân dân các cấp, bản án của Tòa án nhân dân các cấp về việc giải quyết tranh chấp đất đai; kết quả cấp, chỉnh lý Giấy chứng nhận trong các trường hợp chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế có liên quan đến thay đổi ranh giới, mục đích sử dụng đất; quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; có thay đổi ranh giới thửa đất do sạt lở, sụt đất tự nhiên; người sử dụng đất, cơ quan quản lý đất đai các cấp phát hiện có sai sót trong đo vẽ bản đồ địa chính. Như vậy, việc Ông Quách Văn H đề nghị hủy một phần tờ bản đồ địa chính số 07 xã T, huyện T đo vẽ năm 2008 là chưa đúng quy định.
- Ý kiến của UBND xã T, huyện T, Thanh Hóa trình bày: UBND xã T đã được toà án thông báo tham gia tố tụng, triệu tập hợp lệ nhiều lần lên để trình bày ý kiến, hoà giải, đối thoại nhưng không có mặt nên không có ý kiến của UBND xã T.
UBND xã T cung cấp Bản đồ thổ cư năm 2003, Bản đồ địa chính năm 2008 hai hộ tranh chấp; Số cấp Giấy chứng nhận QSDĐ của hai hộ; Sổ mục kê năm 2003 đất của hai hộ ông T1, bà N và bà Y.
-Ngày 28/07/2023 toà án tiến hành Thẩm định thửa đất đang tranh chấp và định giá tài sản cụ thể như sau: Diện tích đất đang tranh chấp có tứ cạnh phía Nam giáp đường liên thôn, phía Đông giáp với đất ông Lê Tiến N3, phía Bắc giáp đất ông T2, phía Tây giáp thửa đất bà N, ông T3, có diện tích 829,4m²(có sơ đồ kèm theo). Trên diện tích 829,4m² đất có trồng cây xã là cây ngắn ngày của giá trình ông N, bà T1 giá trị là 9.123.000đ. Giá trị thửa đất 640.000đ/1m² theo giá thị trường cụ thể 829,4 x 640.000₫ = 530.816.000đ. Diện tích đất hiện trạng của hộ bà Y (nay là hộ ông H, bà T) diên tích đất là 2176,8 m², diện tích đất hiện trạng của hộ ông T1, bà N diện tích đất là 6664,2m².
Về phía sơ đồ thửa đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các đương sự cung cấp được:
- -Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Bùi Thị Y ngày 02/12/20006
- -Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Quách Thị N, ông Bùi Văn T4 ngày 02/12/2006
Văn phòng đăng ký đất đai huyện T cung cấp:
- - 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T4, bà N và bà Y năm 2006.
- - Sổ mục kê tờ bản đồ số 07 thửa đất đứng tên ông T4, bà N và bà Y.
- - Trích Bản đồ thổ cư tờ bản đồ số 2, thửa 23, diện tích 5154m² đo vẽ năm 2003 xã T của ông T4, bà N.
- - Trích bản đồ địa chính tờ số 07, thửa 57 diện tích 12.075m² đo vẽ năm 2008 bà N, ông T4 quản lý.
- - Trích Bản đồ thổ cư tờ bản đồ số 2, thửa 29, diện tích 4359m² đo vẽ năm 2003 xã T của bà Y.
- - Trích bản đồ địa chính tờ số 07, thửa 72 diện tích 2268m² đo vẽ năm 2008 bà Y quản lý.
* Ngày 18/01/2024 anh Quách Văn H có đơn đề nghị Huỷ một phần bản đồ địa chính số 07 xã T, huyện T, Thanh Hóa. Ngày 03/04/2025 anh Quách Văn H có đơn đề nghị rút đơn yêu cầu Huỷ một phần bản đồ địa chính số 07 xã T, huyện T, Thanh Hóa.
*Phần tranh tụng tại phiên tòa:
Anh Quách Văn H và chị Bùi Thị T vẫn thống nhất rút yêu cầu đề nghị Huỷ một phần bản đồ địa chính số 07 xã T, huyện T, Thanh Hóa.
- Tại phiên tòa phía Nguyên đơn yêu cầu ông T4, bà N phải thu hoạch hoa màu trả lại cho anh chị diện tích đất bị lấn chiếm theo biên bản đo đạc thẩm định của toà án diện tích là 996,8m² như sơ đồ hiện trạng đo đạc thửa đất ngày 28/07/2023 của toà án đã tiến hành.
- Tại phiên tòa Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng. HĐXX công bố ý kiến và lời khai của các đương sự vắng mặt tại phiên toà.
Tại phiên tòa không ai cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá có quan điểm:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa xét xử, thấy rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân không có yêu cầu hoặc kiến nghị gì cần khắc phục vi phạm về tố tụng.
Về hướng giải quyết vụ án: Tại phiên toà anh Quách Văn H và chị Bùi Thị T vẫn thống nhất rút yêu cầu đề nghị toà án Huỷ một phần bản đồ địa chính số 07 xã T, huyện T, Thanh Hóa liên quan đến thửa đất nhà ông T4, bà N và nhà ông H, bà T theo bản đồ địa chính đo vẽ năm 2008, đây là sự tự nguyện của các đương sự phù hợp pháp luật nên đề nghị toà án ghi nhận xem xét.
Các hộ đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hiện trạng, mốc giới và bản đồ đúng quy định của pháp luật. Sau khi được cấp các hộ không ai có ý kiến gì về mốc giới giữa các hộ với nhau. Theo biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa các hộ có sự chồng lấn, phía Bị đơn chồng lấn sang phía Nguyên đơn với diện tích là 996,8m²(có sơ đồ hiện trạng kèm theo biên bản thẩm định). Căn cứ tài liệu thu thập được quá trình hoà giải tranh chấp tại cơ sở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hai hộ, bản đồ địa chính, số mục kê năm 2003 có cơ sở xác định mốc giới giữa hai hộ có sự xê dịch theo chiều dài mặt đường là 27,3m. Vì vậy đề nghị toà án chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí các bên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa. HĐXX nhận định.
[1]. Về tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp danh giới đất giữa hai cá nhân trên địa bàn huyện T là tranh chấp dân sư căn cứ Điều 26 Bộ luật TTDS, tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân huyện Thạch Thành. Sau khi thu lý giải quyết nguyên đơn có yêu cầu huỷ một phần bản đồ địa chính xã T vẽ năm 2008 do Sở tài nguyên đóng dấu phê duyệt nên thuộc thẩm quyền của TAND tỉnh Thanh Hoá. Tại phiên toà nguyên đơn rút một phần nội dung yêu cầu huỷ một phần bản đồ địa chính xã T vẽ năm 2008, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[2] Xét nội dung và căn cứ khởi kiện của nguyên đơn:
Về phía sơ đồ thửa đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các đương sự cung cấp: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Bùi Thị Y (nay bà bà T, ông H) cấp ngày 02/12/20006 diện tích 4359m² trong đó có 400m² đất ở còn lại là đất lâu năm ở thửa 29, tờ bản đồ 02 thôn M, xã T, huyện T, Thanh Hóa trong giấy chứng nhận có sơ đồ đất đo vẽ năm 2003; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Quách Thị N và ông Nguyễn Văn T1 cấp ngày 02/12/20006 diện tích 5154m² trong đó có 400m² đất ở còn lại là đất lâu năm ở thửa 23, tờ bản đồ 02 thôn M, xã T, huyện T, Thanh Hóa trong giấy chứng nhận có sơ đồ đất đo vẽ năm 2003, theo số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2006 mục kê năm 2003 thể hiện diện tích của hai hộ phù hợp với giấy chứng nhân quyền sử dụng đất. Theo bản đồ địa chính đo vẽ năm 2008 thì hình thể hai thửa đất, số mục kê diện tích hai thửa đất có sự sai khác so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hai hộ. Căn cứ vào bản đô địa chính 2008 thì thửa đất nhà bà N, ông T1 quản lý diện tích thửa đất là 12075m² tăng 6921m²; diện tích đất nhà bà T, ông H diện tích 2268m² giảm 2091m². Như vậy cả hai giấy chứng nhận đều được cấp trên nền bản đồ 2003 đo vẽ, sau khi cấp giấy chứng nhận các hộ đều thống nhất và ở ổn định cho đến khi có tranh chấp sảy ra.
Theo kết quả đo đạc thẩm định trên hai thửa đất của Toà án phối hợp với Văn phòng đăng ký đất đai huyện T đo vẽ hiện trạng hai thửa đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích hiện trạng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T1, bà N có diện tích là 6664,2m² tăng 1.510,2m², hiện trạng thửa đất nhà ông H, bà T có diện tích là 2176,8m² giảm 2.182,2m². Theo hiện trạng đo đạc có sự xê dịch mốc giới cạnh mặt đường thôn cạnh phía Nam có chiều dài là 27,3m, diện tích chồng lần là 996,8m² (có sơ đồ thẩm định kèm theo).
Căn cứ lời khai của các đương sự thấy rằng từ khi cấp đất ở cho đến nay, các hộ đều sử dụng trồng cây ngắn ngày theo các vạt đất, không có mốc giới cố định, bà Y thường xuyên đi làm ăn xa dẫn đến các hộ làm chồng lấn lên đất của nhau, đây là hiện trạng chung của các tỉnh vùng miền núi không có ranh giới cổ định cụ thể nên HĐXX xác định có sự xê dịch mốc giới của hai thửa đất cụ thể như sơ đồ thẩm định của toà án đã xác định diện tích chồng lấn là 996,8m² về cạnh phía Nam có chiều dài đường liên thôn là 27,3m. Vì vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận. Theo biên bản định giá thì trên thửa đất trồng lấn gia đình bà N, ông T1 trồng xã là cây ngắn ngày thu hoạch theo thời vụ nên buộc ông T1, bà N phải thu hoạch hoa màu trả lại đất cho ông H, bà T sử dụng theo đúng mốc giới được cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[3] Ngày 18/01/2024 anh Quách Văn H có đơn đề nghị Huỷ một phần bản đồ địa chính số 07 xã T, huyện T, Thanh Hóa. Ngày 03/04/2025 anh Quách Văn H có đơn đề nghị rút đơn yêu cầu Huỷ một phần bản đồ địa chính số 07 xã T, huyện T, Thanh Hóa.
Tại phiên toà Nguyên đơn vẫn đề nghị xin được rút phần này nên HĐXX ghi nhận và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là phù hợp.
[4]. Về chi phí xem xét, thẩm định và định giá: Việc xem xét, thẩm định và định giá đã chi hết số tiền 3.500.000₫ số tiền này do bà T, ông H nộp. Ông bà không yêu cầu ông T1, bà N phải trả lại nên không xem xét.
[5] Về án phí: Bà N, ông T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 26, Điều 35, Điều 39 BLTTDS, Điều 175, Điều 176 Bộ luật dân sự; Điều 166, điều 170 Luật đất đai; Điều 244; Khoản 1 Điều 157, Khoản1 Điều 158, Khoản 1 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 1 Điều 24 Điểm a Khoản 2 Điều 27, nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí của Tòa án.
1. Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về việc Huỷ một phần bản đố địa chính số 07 thửa đố 72 và thửa số 57 xã T, huyện T, Thanh Hóa liên quan đến đo đạc hai thửa đất theo bản đồ địa chính xã T vẽ năm 2008.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Quách Văn H và bà Bùi Thị T: Buộc ông Nguyễn Văn T1 và bà Quách Thị N trả lại 996,8m² đất lấn chiếm của gia đình ông Quách Văn H và bà Bùi Thị T. Diện tích đất có tứ cạnh: Phía Nam giáp đường liên thôn chiều rộng là 27,3m; phía Bắc giáp đất bà T, ông H có các cạnh dài là 32,1m, 8,2m, 9,3m, 11,6m,16,9m; phía Tây giáp đất ông T1, bà N là 72,6m (có sơ đồ kèm theo). Buộc ông T1, bà N phải thu hoạch hoa màu trên đất trả lại đất cho ông H, bà T sử dụng theo pháp luật.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn T1 và bà Quách Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000đ ( Ba trăm ngàn đồng). Trả lại số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ mà nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0008001 ngày 03/04/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 luật thi hành án dân sự người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận việc thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn, và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và N4 có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Quân |
Bản án số 84/2025/DS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp quyền sử dụng đất bị lấn chiếm
- Số bản án: 84/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất bị lấn chiếm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
