TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2025/DS-ST Ngày: 04-6-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Đắc Minh.
2. Ông Trương Hữu Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình– Kiểm sát viên.
Ngày 04/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 468/2024/TLST- DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST-DS ngày 13/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hà Trường T, sinh năm 1989; hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1981; địa chỉ thường trú: Ấp H, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông T, bị đơn ông H có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 03/7/2024, quá trình tố tụng giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
Thông qua người giới thiệu tên Trần Thị Tố N, ông T có biết ông H có nhu cầu chuyển nhượng thửa đất số 746 tờ bản đồ số 45 tại xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Ông T được biết nguồn gốc thửa đất trên là được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H, đất chính chủ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DN697270, số vào sổ CN09658 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D cấp ngày 16/4/2024 cho ông H. Ngày 01/5/2024, khi hai bên ký kết hợp đồng đặt cọc thì cùng ký tên, lăn tay xác nhận và có người làm chứng là bà Trần Thị Tố N cùng ký tên, lăn tay làm chứng. Hiện nay, ông T đang là người giữa bản gốc của Hợp đồng đặt cọc ngày 01/5/2024.
Giữa ông T và ông H thỏa thuận giá trị chuyển nhượng thửa đất 746 nói trên là 740.000.000 đồng. Trong ngày 01/5/2024, ông T đã đặt cọc cho ông H với số tiền 100.000.000 đồng, hình thức giao tiền được ông T đưa 10.000.000 đồng tiền mặt cho ông H và 90.000.000 đồng dưới hình thức chuyển khoản. Hai bên thỏa thuận đến ngày 11/5/2024 sẽ thực hiện thủ tục công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, đến ngày 11/5/2024, hai bên không thể ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất 746 được do có tranh chấp giữa các chủ đất trước đối với thửa 746, ông H bị TAND huyện Dầu Tiếng áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, theo đó đã cấm ông H “Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp” và “Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp” theo quy định tại Điều 121, 122 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nay ông Hà Trường T khởi kiện, yêu cầu Tòa án hủy Hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 01/05/2024 về việc thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 746 tờ bản đồ số 45 tại xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương giữa ông Hà Trường T và ông Trần Văn H; đồng thời yêu cầu ông H trả lại cho ông T số tiền đặt cọc đã nhận là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng)
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Đơn khởi kiện ngày 03/7/2024; Bản photo căn cước công dân; bản photo hợp đồng đặt cọc, sao kê tài khoản, hình ảnh, xác nhận cư trú; bản tự khai.
Quá trình trình tiến hành tố tụng, tại Biên bản lấy lời khai ngày 04/11/2024, bị đơn ông H trình bày:
Ông Trần Văn H thừa nhận: Ngày 01/05/2024, giữa ông H với ông Hà Trường T có thỏa thuận với nhau về việc chuyển nhượng phần đất có chiều ngang 15m, chiều dài 152m thuộc thửa đất số 746 tờ bản đồ số 45 tại xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Hai bên thỏa thuận giá trị chuyển nhượng là 740.000.000 đồng, đến ngày 10/5/2024 hai bên sẽ thực hiện thủ tục công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Cùng ngày 01/5/2024, ông H đã nhận tiền cọc từ ông T là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), số tiền trên ông T đưa cho ông H 10.000.000 đồng tiền mặt và 90.000.000 đồng được ông T nhờ người chuyển khoản qua số tài khoản của ông H tại Ngân hàng V.
Do thửa đất 746 có phát sinh tranh chấp, vụ án được Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng thụ lý số 64/2024/TLST-DS ngày 19/01/2024 về việc “Tranh chấp về đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, theo đó bà H1 yêu cầu ông M trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DI 605426, vào sổ số CS 08512 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Phan Thị Thu H1 ngày 08/12/2022 đối với thửa đất số 746, tờ bản đồ số 45, tọa lạc tại xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Thửa đất 746 có nguồn gốc từ việc ông H nhận chuyển nhượng vào khoảng tháng 4/2024 từ em trai là Trần Văn H2, sinh năm 1990 có địa chỉ ấp H, xã Đ, huyện D với giá chuyển nhượng là 400.000.000 đồng. Ông H được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DN 697270, số vào sổ CN09658 ngày 16/4/2024. Đến ngày 01/5/2024 thì ông H mới ký chuyển nhượng cho ông T theo quy định. Khi ông H mua đất từ ông H2, sau đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi tiếp tục ký nhận đặt cọc cho ông T thì không phát sinh tranh chấp với ai, đất cũng không bị ai ngăn chặn, ngăn cản quản lý sử dụng. Sau này, khi ông H cắt cây cao su trên đất để dọn dẹp mặt bằng, để giao đất và ký chuyển nhượng cho ông T thì mới biết thửa đất 746 có tranh chấp giữa bà H1 với ông M. Từ tranh chấp thửa đất 746 giữa bà H1 với ông M nên ông H không thể ký chuyển nhượng cho ông T được.
Trước yêu cầu khởi kiện của ông T, ông H có ý kiến: Hiện nay, ông H có hoàn cảnh khó khăn, vợ chết và đang nuôi con nhỏ, ông H cũng muốn trả tiền đã nhận cọc lại cho ông T nhưng không có khả năng. Ông H có ý kiến là đợi Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng giải quyết xong vụ án tranh chấp giữa bà H1 với ông M đối với thửa đất số 746 tờ bản đồ số 45 tại xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương xong thì ông H mới có đủ điều kiện để thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 746 cho ông T vì ông H cũng đang là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án nêu trên.
Chứng cứ bị đơn cung cấp: Bản photo Căn cước công dân.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, công khai chứng cứ, hòa giải và mở phiên tòa đúng quy định. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn có mặt. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Về nội dung vụ án: Hợp đồng đặt cọc không thỏa mãn các quy định tại Điều 117, 328 Bộ luật dân sự 2015 do đất đang có tranh chấp (đặt cọc ngày 01/5/2024 nhưng vụ án dân sự tranh chấp liên quan đến thửa đất 764, tờ bản đồ số 45 đã được TAND huyện Dầu Tiếng thụ lý số 64/2024/TLST-DS ngày 19/01/2024, Điều 188 Luật Đất đai quy định điều kiện để thực hiện quyền chuyển nhượng là đất không có tranh chấp. Như vậy, hợp đồng đặt cọc vi phạm điểm c khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự, hợp đồng bị vô hiệu theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự và hậu quả của hợp đồng vô hiệu được giải quyết theo Điều 131 Bộ luật Dân sự. Căn cứ vào các chứng cứ của đương sự cung cấp, toà án thu thập và quy định của pháp luật tại Điều 117, 328, 123, 131 Bộ luật Dân sự, các Điều 166, 167, 188 Luật Đất đai 2013, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên vô hiệu hợp đồng đặt cọc và bị đơn phải thanh toán lại tiền cọc 100.000.000 đồng cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi nghe lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định,
[1] Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn có mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Nguyên đơn ông T khởi kiện yêu cầu hủy “Hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 01/05/2024 về việc thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 746 tờ bản đồ số 45 tại xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương giữa ông Hà Trường T và ông Trần Văn H; đồng thời ông T yêu cầu ông H thanh toán lại số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng. Căn cứ quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng và có quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
[3] Quá trình tố tụng, các bên đương sự đều thừa nhận: Ngày 01/5/2024, giữa ông T và ông H có ký kết “Hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”, đối với thửa đất số 746 tờ bản đồ số 45 tại xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương; cùng ngày 01/5/2024, ông T đã giao số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) cho ông H. Ngày 11/5/2024, giữa ông T và ông H sẽ thực hiện thủ tục công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng do thửa đất 746 tờ bản đồ số 45 tại xã Đ, huyện D có tranh chấp nên hai bên không thể ký kết được hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nhau. Đây là tình tiết được các bên đương sự thừa nhận, không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Tại thời điểm ngày 01/5/2024, khi ông H và ông T ký kết “Hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” thì ông H đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 697270, số vào sổ CN09658 ngày 16/4/2024 đối với thửa đất số 746 tờ bản đồ số 45 có địa chỉ tại xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Tới thời điểm ông H và ông T thỏa thuận sẽ công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào ngày 11/5/2024 thì thửa đất 746 có tranh chấp. Tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 14/2024/QĐ-BPKCTT ngày 04/5/2024 của TAND huyện Dầu Tiếng đã áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Cấm chuyển dịch quyền và tài sản đối với tài sản đang tranh chấp” và “Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp” theo Điều 121, 122 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đồng thời cấm ông H chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp và cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp là phần đất có diện tích 2.245,4m² thuộc thửa đất 746 tờ bản đồ số 45 tại xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Căn cứ nội dung thỏa thuận tại “Hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” có ghi: “Bên A (bên bán – ông Trần Văn H) bao đất không tranh chấp, không thưa kiện thửa đất trên, nếu có tranh chấp bên A sẽ chịu trách nhiệm trước pháp lý”, “Ngày 11/5/2024 trường hợp bên A không cung cấp giấy tờ liên quan về thửa đất hay thửa đất bị tranh chấp, hoặc đổi ý không bán thì phải bồi thường số tiền gấp đôi số tiền đặt cọc cho bên B vào ngày 11/5/2024”. Như vậy, có căn cứ xác định ngày 11/5/2024, giữa ông T và ông H không thể ký kết được với nhau hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất 746 tờ bản đồ số 45 tại xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương là do thửa 746 có phát sinh tranh chấp. Quá trình thu thập chứng cứ, xác định được: Ngày 19 tháng 01 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã thụ lý vụ án dân sự số 64/2024/TLST-DS về việc “Tranh chấp về đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, theo đó bà H1 yêu cầu ông M trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DI 605426, vào sổ số CS 08512 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Phan Thị Thu H1 ngày 08/12/2022 đối với thửa đất số 746, tờ bản đồ số 45, tọa lạc tại xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương; Ngày 06 tháng 5 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã thụ lý đơn yêu cầu bổ sung của bà H1, theo đó bà H1 yêu cầu T1 hợp đồng ủy quyền được ký kết giữa bà Phan Thị Thu H1 với ông Phan Văn M đối với phần đất có diện tích 2245,4 m² thuộc thửa đất số 746, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 605426, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 08512 ngày 08/12/2022 được Văn phòng C, tỉnh Bình Dương công chứng số 4720, quyển số 02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/12/2022 bị vô hiệu do bị lừa dối. Ngày 01/4/2024, tại Văn phòng C1, ông Trần Văn H2 là đại diện cho bà Phan Thị Thu H1 (bà Phan Thị Thu H1 ủy quyền cho ông Phan Văn M theo Hợp đồng ủy quyền số 4720, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/12/2022; ông Phan Văn M ủy quyền cho ông Trần Văn H theo Hợp đồng ủy quyền số 464, quyển số 01/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/3/2024) đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số cho ông Trần Văn H. Đến ngày 16/4/2024, ông H được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DN 697270, số vào sổ CN09658 đối với diện tích đất 2245,4m² thuộc thửa đất số 746, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Như vậy, tại thời điểm ngày 01/5/2024, khi ông H và ông T ký kết với nhau Hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 746 thì thửa đất này đã có phát sinh tranh chấp và được TAND huyện Dầu Tiếng thụ lý giải quyết. Tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 14/2024/QĐ-BPKCTT ngày 04/5/2024 của TAND huyện Dầu Tiếng đã cấm ông H chuyển dịch quyền và tài sản đối với tài sản đang tranh chấp và cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp theo Điều 121, 122 của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với phần đất có diện tích 2.245,4m² thuộc thửa đất 746 tờ bản đồ số 45 tại xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Do đó “Hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 01/5/2024 giữa ông H với ông T nhằm mục đích để chuyển nhượng đất số 746 tờ bản đồ số 45 tại xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương là vô hiệu theo quy định tại Điều 117, 123, 131 của Bộ luật Dân sự.
[5] Theo quy định tại Điều 131 của Bộ luật Dân sự thì: “1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch dân sự được xác lập. 2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.”. Hợp đồng đặt cọc ngày 01/5/2024 vừa để bảo đảm giao kết, vừa để thực hiện hợp đồng theo quy định tại Điều 328 của Bộ luật Dân sự. Do hợp đồng ngày 01/5/2024 vô hiệu ngay từ khi ký kết nên không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Cũng theo quy định tại khoản 4 Điều 131 của Bộ luật Dân sự thì “Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Xét thấy, quá trình tố tụng nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán tiền đặt cọc đã nhận là 100.000.000 đồng, không yêu cầu phạt cọc hay bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật và theo thỏa thuận tại “Hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” ngày 01/5/2024 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Ý kiến trình bày của bị đơn ông H là không có căn cứ, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng về phần các thủ tục tố tụng, diễn biến tại phiên tòa và nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều 5, 26, 35, 39, 92, 147, 157, 227, 228, 229, 246, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các Điều 116, 117, 122, 123, 131, 328, 357, 468 của Bộ luật Dân sự;
- - Căn cứ các Điều 166, 167, 168, 188 của Luật Đất đai 2013;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hà Trường T đối với bị đơn ông Trần Văn H về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
- Tuyên bố “Hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” đối với diện tích đất 2245,4m² thuộc thửa đất số 746 tờ bản đồ số 45 có địa chỉ tại xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương được ký kết ngày 01/5/2024 giữa ông Hà Trường T và ông Trần Văn H là vô hiệu.
- Buộc Trần Văn H trả lại cho ông Hà Trường T số tiền đặt cọc đã nhận là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Trần Văn H phải chịu số tiền 5.300.000 đồng (năm triệu ba trăm nghìn đồng).
- Hoàn trả cho ông Hà Trường T số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000461 ngày 23/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Trường hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 04/6/2025).
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Hồ Đắc Minh | Trần Văn Tùng |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Bình Dương;
- - VKSND huyện Dầu Tiếng;
- - CC THA DS huyện Dầu Tiếng;
- - Các đương sự;
- - Lưu: Hồ sơ, VT.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | |
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Trần Văn Tùng |
Bản án số 84/2025/DS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 84/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng đặt cọc
