Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2025/DS- PT

Ngày 25/6/2025

“V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Anh Tuyết

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thúy Hằng

Ông Trần Hữu Hiệu

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Hữu Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quyên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 28/2025/TLPT- DS ngày 07 tháng 5 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, do bản án Dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS- ST ngày 17/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách bị kháng cáo; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 25/2025/QĐXX- PT ngày 06/6/2025, giữa:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1959; Địa chỉ: Thôn L, xã Q (trước là xã T), huyện N, tỉnh Hải Dương, có mặt.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Đức N, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương, có mặt.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn L, xã Q (trước là xã T), huyện N, tỉnh Hải Dương, có mặt.
  • - Người làm chứng: Ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1955; Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1959; chị Trần Thị H, sinh năm 1989; Đều có địa chỉ: Thôn L, xã N,

huyện N, tỉnh Hải Dương (Ông T1, bà T2 vắng mặt; chị H có mặt).

* Người kháng cáo: Anh Nguyễn Đức N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản đối chất, biên bản hòa giải, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: Do có mối quan hệ quen biết với ông Nguyễn Đức T1 và bà Nguyễn Thị T2 là bố mẹ đẻ của anh N nên ngày 31/7/2015 dương lịch ông cho anh N vay số tiền 1.900.000.000 đồng (là tiền của hai vợ chồng ông), hai bên có viết giấy biên nhận vay tiền, có chữ ký của anh N, mục đích vay để anh N đáo hạn ngân hàng. Mặc dù hai bên không ghi lãi suất trong giấy vay tiền nhưng thực tế ông cho anh N vay với lãi suất là 16%/năm cùng lãi suất với khoản vay của ông T1, bà T2; vì anh N vay để đáo hạn ngân hàng, thời hạn vay sẽ nhanh nên trong giấy vay tiền không ghi thời hạn trả nợ. Ông T1, bà T2 trực tiếp trả lãi hộ anh N, sau nhiều lần trả lãi, đến ngày 03/4/2016 âm lịch tức ngày 9/5/2016 dương lịch, ông T1 bà T2 chốt lại nợ gốc 1.900.000.000 đồng và lãi kể từ ngày 31/7/2015 dương lịch đến ngày 03/4/2016 âm lịch theo lãi suất 16% là 205.000.000 đồng. Như vậy tính từ ngày 03/4/2016 âm lịch anh N còn nợ ông số tiền 2.105.000.000 đồng. Ông chấp nhận các hóa đơn ghi số tiền ông T1 trả nợ thay cho anh N sau ngày chốt nợ là 03/4/2016 âm lịch tức ngày 9/5/2016 dương lịch gồm 18 lần thanh toán từ ngày 29/4/2016 dương lịch đến ngày 13/01/2022 âm lịch tức ngày 11/2/2022 dương lịch là 291.000.000 đồng còn những khoản thanh toán trước ngày 03/4/2016 âm lịch ông không chấp nhận. Ông đồng ý trừ số tiền anh N đã thanh toán vào tiền lãi, còn lại bao nhiêu anh N phải có nghĩa vụ thanh toán cùng nợ gốc. Nay ông yêu cầu anh N phải có trách nhiệm trả cho ông toàn bộ số nợ gốc là 2.105.000.000đ và khoản tiền lãi theo lãi suất trung hạn của Ngân hàng N2 tính từ ngày 03/4/2016 âm lịch đến ngày xét xử sau khi đối trừ đi 291.000.000 đồng. Ông xác định đây là khoản vay riêng của anh N không liên quan đến chị H vợ anh N nên ông chỉ yêu cầu anh N thanh toán.

Ông T giao nộp 01 bản gốc “Giấy biên nhận vay tiền” ghi ngày 31/7/2015 dương lịch, có chữ ký của anh N và bản gốc giấy chốt nợ, chốt lãi ghi ngày 03/4/2016 âm lịch có chữ ký của ông T1, bà T2.

- Bị đơn (anh N) trình bày: Ngày 31/7/2015 dương lịch anh có vay của ông T số tiền 1.900.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng, không có lãi suất, không có

thời hạn vay và không thế chấp. Do không có tiền trả ngay cho ông T nên anh đi làm ăn tại tỉnh Gia Lai để lấy tiền gửi về cho bố mẹ anh là ông T1, bà T2 trả nợ ông T giúp anh. Tổng 25 lần thanh toán, cụ thể: Ngày 21/12/2015 âm lịch tức 30/01/2016 dương lịch: 340.000.000đ; ngày 26/12/2015 âm lịch tức 4/2/2016 dương lịch: 400.000.000đ; ngày 5/2/2016 dương lịch tức 27/12/2015 âm lịch: 300.000.000đ; ngày 6/2/2016 dương lịch tức 28/12/2015 âm lịch: 100.000.000đ; ngày 07/02/2016 dương lịch tức 29/12/2015 âm lịch: 20.000.000đ; ngày 10/3/2016: 40.000.000đ; ngày 17/3/2016 dương lịch: 50.000.000đ; ngày 23/4/2016: 88.800.000đ; ngày 29/4/2016 dương lịch: 30.000.000đ; ngày 24/7/2016 âm lịch tức 26/8/2016 dương lịch: 60.000.000đ; ngày 11/11/2016: 100.000.000đ; ngày 27/12/2017 âm lịch tức 12/2/2018 dương lịch: 50.000.000đ; ngày 13/12/2018 âm lịch tức 25/1/2019 dương lịch: 4.000.000đ; ngày 28/12/2019: 5.000.000đ; ngày 1/3/2020 âm lịch tức 24/3/2020 dương lịch: 5.000.000đ; ngày 3/9/2020 âm lịch tức 19/10/2020: 5.000.000đ; ngày 20/11/2020 dương lịch tức 6/10/2020 âm lịch: 4.000.000đ; ngày 30/2/2021 âm lịch tức 11/4/2021 dương lịch: 2.000.000đ; ngày 23/11/2021: 2.000.000đ; ngày 11/6/2021 âm lịch tức 20/7/2021 dương lịch: 2.000.000đ; ngày 01/9/2021: 2.000.000đ; ngày 01/10/2021: 2.000.000đ; ngày 20/11/2021: 5.000.000 đồng; ngày 06/12/2021: 5.000.000đ; ngày 13/1/2022 âm lịch tức 11/2/2022 dương lịch: 3.000.000đ. Do khoản vay của anh là khoản vay không có lãi nên toàn bộ số tiền trên anh thanh toán cho khoản nợ gốc. Anh đã thanh toán cho ông T được 1.624.800.000 đồng, còn nợ 275.200.000 đồng. Vì hiện nay anh gặp khó khăn về kinh tế nên anh hứa sẽ thanh toán dần cho ông T số tiền này khi nào anh có tiền, anh không đồng ý việc ông T1, bà T2 chốt nợ thay anh ngày 03/4/2016 âm lịch đối với khoản vay của anh với ông T vì anh chỉ nhờ bố mẹ anh trả nợ ông T hộ chứ không nhờ ông bà chốt nợ. Số tiền 1.900.000.000 đồng anh vay ông T để làm ăn riêng nên không liên quan đến vợ anh là chị Trần Thị H.

Anh N giao nộp bản chính các giấy tờ thanh toán giữa ông T1, bà T2, chị H với ông T, bà N1.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N1 trình bày: Bà là vợ của ông T, bà nhất trí với yêu cầu khởi kiện và các quan điểm ông T trình bày.

- Ông Nguyễn Đức T1 và bà Nguyễn Thị T2 – là bố mẹ đẻ anh N xác định: Ngày 03/4/2016 âm lịch ông bà đến nhà ông T chốt tiền nợ của ông bà với ông

T. Tuy nhiên, ông T yêu cầu ông bà phải ký xác nhận cả khoản vay của anh N, do vậy nên ông bà buộc phải viết và ký theo yêu cầu của ông T chứ thực chất ông bà không nắm được khoản nợ của anh N với ông T. Đối với số tiền anh N gửi về nhờ ông bà thanh toán cho ông T, ông bà nhất trí với tổng số tiền đã thanh toán hộ anh N như anh N trình bày.

- Chị Trần Thị H là vợ của anh N xác định: Trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến 2018 ông T1 và anh N có vài lần đưa tiền cho chị bảo chị đem đến nhà và đưa tiền cho ông T, bà N1, số tiền bao nhiêu và cụ thể ngày nào chị không nhớ.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS- ST ngày 13/3/2025, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách đã xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T. Buộc anh N phải trả cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị N1 số tiền nợ gốc + lãi là 860.519.353 đồng và tiền lãi trên số nợ gốc từ ngày 18/3/2025 đến khi thanh toán xong nợ. Ngoài ra còn tuyên về quyền đề nghị thi hành án, tiền án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 31/3/2025, anh N kháng cáo không nhất trí bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày quan điểm, lập luận làm căn cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bà N1) nhất trí với bản án sơ thẩm, đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định về việc có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Về đường lối giải quyết vụ án: Kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm; Về án phí phúc thẩm: Anh N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị đơn (anh N) làm trong thời hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên kháng cáo hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Đối với nội dung kháng cáo của bị đơn (anh N) nêu trong đơn kháng cáo và qua việc làm rõ tại phiên tòa phúc thẩm. HĐXX nhận thấy:
    1. [2.1] Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng và các tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án thì có căn cứ xác định việc ông T cho anh N vay số tiền 1.900.000.000 đồng vào ngày 31/7/2015 dương lịch, hai bên có viết giấy biên nhận vay tiền, chữ viết và chữ ký trong giấy biên nhận là của anh N. Do đó, việc ông T yêu cầu anh N trả số tiền nợ gốc 1.900.000.000 đồng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
    2. [2.2] Nguyên đơn xác định khoản nợ vay 1.900.000.000 đồng của bị đơn nêu trên là có thỏa thuận tính lãi với mức 16%/năm. Bị đơn xác định trong giấy biên nhận vay tiền các bên không thỏa thuận về lãi suất và thời hạn trả nợ nên khoản nợ vay 1.900.000.000 đồng là khoản vay không có lãi. HĐXX xét thấy tại các giấy tờ thanh toán nợ giữa ông T, bà N1 với anh N, ông T1 có giấy thể hiện việc thanh toán nợ ghi cụ thể tiền gốc, lãi, số ngày nhân với phần trăm tính lãi, có giấy thanh toán chỉ ghi số tiền trả nhưng các bên đều thừa nhận là tiền thanh toán cho khoản nợ 1.900.000.000 đồng của anh N (BL: 75 đến 96), do vậy có căn cứ xác định đây là khoản vay có lãi và xác định thời điểm vay nợ giữa anh N và ông T là ngày 31/7/2015 dương lịch nên những giấy tờ thanh toán tiền cho khoản vay kể từ thời điểm vay sẽ được chấp nhận. Anh N xuất trình 34 chứng từ thanh toán nhưng có 02 chứng từ trùng số tiền 5.000.000 đồng và trùng ngày 19/10/2020 dương lịch tức 3/9/2020 âm lịch (BL số 83 và 85) nên HĐXX chỉ chấp nhận là 01 chứng từ. Do hai bên không thống nhất được thời hạn cho vay và lãi suất nên căn cứ vào Điều 469 của Bộ luật dân sự, xác định đây là Hợp đồng vay không kỳ hạn có lãi suất và được tính từ ngày 31/7/2015 dương lịch. Việc ông T yêu cầu tính lãi suất từ ngày 03/4/2016 âm lịch và anh N cho rằng đây là khoản vay không có lãi suất là không có căn cứ. Vì vậy, cần chấp nhận tất cả các giấy thanh toán tiền mà ông T nhận từ ông T1 để thanh toán cho khoản nợ của anh N kể từ ngày
    3. [2.3] 31/7/2015 dương lịch. Không chấp nhận yêu cầu của ông T tính thời hạn thanh toán từ ngày 03/4/2016 âm lịch tức ngày 09/5/2016 dương lịch.
    4. [2.3] Do các đương sự tranh chấp về lãi suất nên việc Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 476 của Bộ luật Dân sự 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để tính nợ gốc và nợ lãi của anh N đến hết ngày 06/4/2024 anh N phải trả cho ông T, bà N1 tính đến ngày 17/3/2025 = 860.519.353 đồng (trong đó nợ gốc= 498.686.654 đồng, nợ lãi = 361.832.699 đồng) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
    5. [2.4] Như phân tích, nhận định ở trên, HĐXX thấy cấp sơ thẩm đã tuyên xử đúng quy định của pháp luật về số tiền nợ gốc, nợ lãi bị đơn (anh N) phải trả cho ông T, bà N1 và tiền lãi chậm thanh toán tiền nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 18/3/2025 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
    6. [2.5] Anh N kháng cáo không nhất trí với bản án sơ thẩm nhưng tại cấp phúc thẩm không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh kháng cáo là có căn cứ theo quy định của pháp luật.
    7. [2.6] Từ các nhận định đã được phân tích ở trên, HĐXX thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  3. [3] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. [4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Đức N.
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS- ST ngày 17/3/ 2025 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
  3. Về án phí: Anh Nguyễn Đức N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh N đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách theo biên lai thu tiền số 0000406 ngày 11/4/2025; Anh Nguyễn Đức N đã nộp xong tiền án phí dân sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (25/6/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - TAND huyện Nam Sách;
  • - Chi cục THA DS huyện Nam Sách;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hs; lưu toà.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Anh Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2025/DS- PT ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 84/2025/DS- PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger