Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HS-ST

Ngày: 30/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc

Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Cang

Bà Đỗ Thị Lài

Ông Trần Văn Việt

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thạch - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23, 30 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2024/TLST-HS ngày 08/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-HS ngày 01/7/2024, đối với các bị cáo:

1. Phạm Công H (tức: Năm Gà), sinh năm 1995 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Thường trú: Khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Phạm Văn C (Đã chết) và bà Trương Thị P (sinh năm 1966); là con út trong gia đình có 04 anh em; chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 07/01/2016, Công an huyện Đ ra Quyết định xử phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự khu dân cư”.

Bị bắt ngày 22/11/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)

2. Nguyễn Thanh T (tức: C1), sinh năm 1990 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Thường trú: Khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở: Khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Thanh T1 (Đã chết) và bà Lê Minh T2 (sinh năm 1972); là con duy nhất trong gia đình; có vợ là Đỗ Quỳnh Anh T3 (sinh năm 1995) và 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Bản án số 10 ngày 02/4/2013 của Toà án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 03 (Ba) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Bị bắt ngày 22/11/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)

3. Trang Phi C2 (tức: C2 rơm), sinh năm 1995 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Thường trú: Khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Trang Văn Í (sinh năm 1972) và bà Đoàn Thị Kim T4 (sinh năm 1970); là con đầu trong gia đình có 02 anh em; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt ngày 22/11/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)

4. Trương Quốc C3, sinh năm 2000 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Thường trú: Khu phố P, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Cơ khí; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Trương Quốc T5 (không rõ năm sinh) và bà Nguyễn Thị C4 (sinh năm 1978); là con duy nhất trong gia đình; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt ngày 22/11/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)

5. Lê Minh Đ (tức: B), sinh năm 1985 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Thường trú: Khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở: Khu phố P, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lê Văn T6 (Là bị hại, đã chết trong vụ án) và bà Phan Thị H1 (sinh năm 1962); là con út trong gia đình có 02 chị em; có vợ là Nguyễn Thị Thu H2 (sinh năm 1986) và 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt ngày 12/12/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)

* Người bào chữa cho bị cáo Phạm Công H: Luật sư Nguyễn Văn H3 – Văn phòng L, Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)

* Bị hại: Ông Lê Văn T6, sinh năm 1963 (đã chết trong vụ án)

Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Phan Thị H1, sinh năm 1962 và anh Lê Minh Đ, sinh năm 1985 (là bị cáo trong vụ án); cùng địa chỉ: Khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chị Lê Thị T7, sinh năm 1983; địa chỉ: Khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người đại diện theo ủy quyền của bà H1, anh Đ: Bà Lê Thị T7, sinh năm 1983; địa chỉ: Khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (bà H1, chị T7 đều có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Phạm Hữu C5, sinh năm 1970; Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt) (Anh bị cáo H, nộp thay bị cáo 30 triệu đồng khắc phục hậu quả)

* Người làm chứng:

  1. Ông Trần Minh Q, sinh năm 1992; Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
  2. Bà Nguyễn Thị Thủy V, sinh năm 1999; Địa chỉ: A Ô, khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
  3. Bà Lê Thị Minh T8, sinh năm 1972; Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
  4. Bà Đỗ Huỳnh Anh T9, sinh năm 1995; Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
  5. Ông Phạm Phi H4, sinh năm 1984; Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
  6. Ông Lư Văn G, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
  7. Ông Lư Văn Đ1, sinh năm 1949; Địa chỉ: Tổ G, khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18h00' ngày 21/11/2023, Phạm Công H, Nguyễn Thanh T, Trang Phi C2, Trương Quốc C3 và Trần Minh Q (sinh năm 1992, trú tại Khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) cùng nhậu trên vỉa hè trước nhà bà Nguyễn Thị B1 (sinh năm 1932, bà ngoại T) ở khu phố T, thị trấn Đ. Trong lúc nhậu, T nhìn thấy mái hiên nhà bà B1 bị tháo gỡ tấm tôn nên nghi ngờ em họ mình là Lê Minh Đ thực hiện nên T gọi điện thoại nói chuyện với Đ dẫn đến hai người cãi nhau. Sau đó, T đi đến nhà Đ ở cạnh nhà bà B1 thì gặp ông Lê Văn T6 (sinh năm 1963, bố Đ, cậu ruột T) để nói chuyện. Lúc này, Đ về nhà thì T và Đ tiếp tục cãi nhau và đánh nhau bằng tay không. H, Phi C2 và Quốc C3 thấy T đánh nhau thì cùng lao vào giúp T đánh Đ. Trong lúc đánh nhau, Phi C2 sử dụng thắt lưng (dây nịt) đánh Đ; còn H và Quốc C3 nhặt gạch ném Đ. Riêng Q đến can ngăn và hô to “có Công an đến” nên cả nhóm dừng lại, Đ bỏ chạy thoát. Sau đó, T, Phi C2, H và Quốc C3 điều khiển xe mô tô bỏ đi; còn Q điều khiển xe mô tô về nhà.

Trong lúc đánh nhau, T thấy sợi dây chuyền của Đ rơi xuống đất nên trên đường đi, T mượn xe của Quốc C3 quay lại tìm sợi dây chuyền để trả cho Đ. Lúc này, Phi C2 chạy xe một mình, H chạy xe chở Quốc C3 theo sau xe T để giúp T nếu có xảy ra đánh nhau.

Khi thấy T quay lại, Đ chạy vào nhà lấy một con dao phay (dài 41cm, lưỡi kim loại màu đen dài 29,5cm, vuông đầu, sắc một cạnh, chỗ rộng nhất 7,2cm, cán gỗ màu vàng dài 11,5cm) rượt đuổi chém T. T dùng tay đỡ và bị dao của Đ làm rách da ở đỉnh đầu trái. T chụp được con dao rồi dùng tay không đánh làm Đ té ngã xuống đất. Lúc này, Phi C2, H và Quốc C3 đi tới nhìn thấy Đ sử dụng dao đánh T thì Phi C2 dừng xe nhặt một viên gạch trên vỉa hè làm hung khí cùng với Quốc C3 đuổi theo giúp T đánh nhau với Đ. H dừng xe mở cốp lấy một con dao (dài khoảng 20cm, cán đen, lưỡi kim loại, một lưỡi sắt, mũi dọn, lưỡi dao dài khoảng 13cm) chạy theo sau. Cùng lúc này, ông T6 thấy nhóm T đuổi đánh Đ nên lấy một khúc cây xông đến đánh vào đầu Phi C2 thì bị H xông tới cầm con dao bằng tay phải đâm một nhát trúng vào hông phải ông T6. Thấy ông T6 bị đâm và có Công an thị trấn Đất Đỏ xuống hiện trường nên nhóm của T bỏ chạy. H đi được khoảng 200m rồi ném con dao ở ven đường. Ông T6 được người nhà đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong trước khi đi đến bệnh viện. Ngày 22/11/2024, H, T, Phi C2 và Quốc C3 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC02) Công an tỉnh B đầu thú.

Tại hiện trường, Cơ quan điều tra thu giữ được các vật chứng gồm:

  • 01 vết màu nâu đỏ, nghi là máu, trên vỉa hè trước nhà ông Lê Văn T6, cách lề đường khoảng 100cm.
  • 01 vết màu nâu đỏ, nghi là máu, trong sân nhà ông Lê Văn T6.
  • 01 vết màu nâu đỏ, nghi là máu, trên vỉa hè đối diện nhà ông Lê Văn T6.
  • 01 áo sơ mi vải, tay dài, sọc trắng xanh, trên cổ áo có chữ “Person For M”, ở cạnh tường rào trước nhà ông Lê Văn T6, dính chất màu nâu đỏ nghi là máu.
  • 01 áo sơ mi vải, tay dài, sọc ca-ro vuông, màu trắng - xanh nhạt, không rõ nhãn hiệu trên hiên nhà bà Nguyễn Thị B1, dính dấu vết màu nâu đỏ nghi là máu.
  • 01 mũ bảo hiểm màu xanh, loại nửa đầu, viền mũ và quai cài màu đen, có chữ “Nón Sơn".
  • 01 con dao (dài khoảng 20cm, cán màu đen, lưỡi dao bằng kim loại, một lưỡi sắt, mũi dọn, lưỡi dao dài khoảng 13cm, lưỡi dao có dính dấu vết màu nâu đỏ).
  • 01 con dao (loại dao phay, dài 41cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen, dài 29,5cm, vuông đầu, sắc một cạnh, chổ rộng nhất 7,2cm, cán dao dài 11,5cm, bằng gỗ màu vàng), Đ sử dụng làm hung khí đánh nhau.

Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với H về tội “Giết người” theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; đối với Nguyễn Thanh T, Lê Minh Đ, Trang Phi C2, Trương Quốc C3 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự để điều tra theo quy định.

Kết luận giám định pháp y về tử thi số 441/KLGĐTT-PC09 ngày 21/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B đối với ông Lê Văn T6 xác định:

“+ Các kết quả chính:

  • Kết quả khám nghiệm: Vết thương rách da cơ vùng hông phải, hình khe, mép gọn, kích thước 3cm x 1cm; vết thương này xuyên thấu vào khoang bụng theo chiều từ phải qua trái; xuyên thấu thùy phải gan tạo ra vết thương hình khe, kích thước 2.7cm x 0.2cm, sâu 6cm, gây tràn máu khoang bụng.
  • Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Mô bệnh học: Xuất huyết, tụ máu ở mô liên kết dưới da bụng; các tạng khác phù nề sưng huyết.

+ Kết luận:

  • Nguyên nhân chết: Lê Văn T6 chết do vết thương xuyên thấu bụng, mất máu cấp.
  • Vật tác động gây tử vong là vật có bản cứng, dẹt, cạnh sắc, tác động trực tiếp vào vùng bụng cơ thể nạn nhân theo chiều hướng từ phải qua trái.
  • Trong máu tử thi Lê Văn T6, không tìm thấy E; Không tìm thấy ma túy; Xét nghiệm HIV: Âm tính” (BL 72-73).

Kết luận số 53/KLTTCT-PYBRVT ngày 06/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với thương tích của Lê Minh Đ xác định: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 01%” (BL 107-109).

Kết luận số 32/KLTTCT-PYBRVT ngày 01/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với thương tích Nguyễn Thanh T xác định: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 01%” (BL102-105).

Kết luận số 7671/KL-C09B ngày 11/01/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ C6 xác định:

“- Dấu vết máu trên con dao cán gỗ màu vàng (mẫu A7); Dấu vết máu trên 02 áo sơ mi (mẫu A4, A5) và các dấu vết máu tại hiện trường (mẫu A1, A3) đều lẫn nguồn ADN. Phân tích được hai kiểu gen nam giới, trùng với ADN của ông Lê Văn T6 và Lê Minh Đ.

- Dấu vết máu trên con dao cán màu đen (mẫu A6); Dấu vết máu tại hiện trường (mẫu A2) cũng lẫn nguồn ADN. Phân tích được một kiểu gen nam giới, trùng với ADN của Nguyễn Thanh T” (BL 88).

Kết luận số 7670/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ C7 xác định: “Không phát hiện đường vân trên con dao dài khoảng 20cm, cán màu đen, gửi giám định” (BL 90).

Qua đánh giá diễn biến sự việc và kết quả điều tra, xét thấy:

- Đối với bị cáo Phạm Công H: Diễn biến sự việc cho thấy khi T mượn xe của Quốc C3 quay lại hiện trường tìm sợi dây chuyền để trả cho Đ thì Phi C2, H, Quốc

C3 đi theo T mục đích nếu T xảy ra đánh nhau với Đ thì cả nhóm đánh Đ giúp T. Các bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất tấn công hay tước đoạt tính mạng của ông T6 nên việc bị cáo H sử dụng dao đâm ông T6 tử vong là do cá nhân Hậu bột phát thực hiện. Do đó, H phải chịu trách nhiệm độc lập về cái chết của ông T6 nên hành vi của H đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

- Đối với các bị cáo Nguyễn Thanh T, Trang Phi C2, Trương Quốc C3, Lê Minh Đ: Diễn biến sự việc cho thấy các bị cáo T, Phi C2, Quốc C3 không bàn bạc, không thống nhất ý chí tước đoạt tính mạng ông T6 nên các bị cáo không đồng phạm với bị cáo Phạm Công H. Tuy nhiên, tại hiện trường các bị cáo T, Phi C2, Quốc C3 và bị cáo Đ sử dụng hung khí là dao, gạch đá đánh nhau đã ảnh hưởng rất xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội nên đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận và diễn tả lại hành vi như đã nêu trên; công nhận kết quả điều tra và vật chứng thu giữ được. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án (BL 154-169, 191-200, 210-220, 228-237, 246-255).

* Vật chứng:

Các vật chứng thu giữ đã chuyển đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bảo quản.

* Phần dân sự:

Đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo Phạm Công H bồi thường 400 triệu đồng, gồm 166 triệu đồng chi phí mai táng cho bị hại và 234 triệu đồng tổn thất về tinh thần tương đương 100 tháng lương cơ bản. Bị cáo H chưa bồi thường. Ông Phạm Hữu C5, anh ruột bị cáo H, nộp thay bị cáo 30 triệu đồng khắc phục hậu quả tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

2. Tại Cáo trạng số 60/CT-VKSBRVT-P2 ngày 04/4/2024, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Phạm Công H về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Thanh T, Trang Phi C2, Trương Quốc C3, Lê Minh Đ về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

3. Tại phiên tòa, trong bản luận tội vị đại diện Viện Kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Phạm Công H phạm tội “Giết người”; các bị cáo Nguyễn Thanh T, Trang Phi C2, Trương Quốc C3 và Lê Minh Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Đề nghị hình phạt:

+ Áp dụng khoản điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Công H 16 (Mười sáu) -18 (Mười tám) năm tù.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 03 (Ba) – 04 (Bốn) năm tù, Trang Phi C2 02 (Hai) – 03 (Ba) năm tù, Trương Quốc C3 02 (Hai) – 03 (Ba) năm tù và Lê Minh Đ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng – 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo H bồi thường 400 triệu đồng theo yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định của pháp luật.

4. Tranh luận và đối đáp tại phiên tòa

4.1. Luật sư Nguyễn Văn H3 phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo Phạm Công H:

Nhất trí về tội danh, Điều khoản truy tố bị cáo Phạm Công H của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đề nghị Hội đồng xét xử lưu tâm xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt: Bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không có mâu thuẫn với bị hại, nhưng bênh bạn nên hành động mà không có mục đích tước đoạt mạng sống bị hại, không lường trước được hậu quả xảy đến, đã nhờ gia đình nộp 30 triệu đồng khắc phục hậu quả và cam kết tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại.

Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Công H mức án dưới khung hình phạt, dưới mức đề xuất của Viện Kiểm sát thể hiện sự khoan hồng, tính nhân văn sớm để bị cáo sớm được trở về về gia đình, lao động làm người có ích cho xã hội.

4.2. Bị cáo Phạm Công H: Nhất trí với luật sư, không bào chữa bổ sung.

4.3. Các bị cáo Nguyễn Thanh T, Trang Phi C2, Trương Quốc C3, Lê Minh Đ không tham gia tranh luận.

4.4. Đại diện hợp pháp của bị hại có trình bày: Từ khi vụ án xảy ra, gia đình chưa nhận được bồi thường hay quan tâm hỏi han của bị cáo và gia đình.

4.5. Đại diện Viện kiểm sát đối đáp:

Số tiền 30 triệu bị cáo và gia đình nộp khắc phục hậu quả tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh nhỏ so với số tiền phải bồi thường nên không nhất trí áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; không có căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự; hơn nữa vụ án xảy ra gây dư luận xấu tại địa phương nên đề nghị xử nghiêm, không áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự.

4.6. Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và các đề nghị.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để bị cáo có cơ hội sớm trở về làm công dân tốt có ích cho xã hội.

5. Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, của những người tham gia tố tụng khác, kết luận giám định, thực nghiệm điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:

Khoảng 18h00' ngày 21/11/2023, Phạm Công H, Nguyễn Thanh T, Trang Phi C2, Trương Quốc C3 và Trần Minh Q nhậu trên vỉa hè, trước nhà bà Nguyễn Thị B1 (bà ngoại T) ở khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì T xảy ra mâu thuẫn, đánh nhau với em họ ở ngay nhà kế bên là Lê Minh Đ. Phi C2 sử dụng dây nịt, H và Quốc C3 dùng gạch tham gia đánh nhau. Q đến can ngăn và hô to “có Công an đến” nên nhóm T dừng lại bỏ đi, Q chạy xe máy về nhà.

Một lúc sau nhóm T quay lại, Đ chạy vào nhà lấy một con dao phay (dài 41cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 29,5cm, vuông đầu, sắc một cạnh, chỗ rộng nhất 7,2cm, cán dao bằng gỗ màu vàng dài 11,5cm) đuổi theo T để đánh nhau. Đông vung dao chém thì T dùng tay đỡ chụp được con dao. T đánh Đ té ngã xuống đất. Phi Cường, Quốc C3 nhặt gạch trên vỉa hè ném về phía Đông. Lúc này, cha của Đ là ông Lê Văn T6 thấy nhóm T đánh Đ nên lấy một khúc cây xông đến đánh vào đầu Phi C2 thì liền bị H xông tới cầm con dao (dài khoảng 20cm, cán màu đen, lưỡi dao bằng kim loại, một lưỡi sắt, mũi dọn, lưỡi dao dài khoảng 13cm) bằng tay phải đâm một nhát trúng vào vùng hông phải của ông T6 dẫn đến ông T6 tử vong do vết thương xuyên thấu bụng, mất máu cấp. Việc sử dụng dao đâm ông T6 tử vong do bị cáo H bột phát thực hiện, không có sự bàn bạc, thống nhất ý chí với các bị cáo khác trong nhóm.

Các bị cáo Nguyễn Thanh T, Trang Phi C2, Trương Quốc C3 và Lê Minh Đ sử dụng hung khí là dao, gạch đá, dây nịt đuổi đánh nhau trên vỉa hè đường, ảnh hưởng rất xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn khu dân cư.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo Phạm Công H phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Thanh T, Trang Phi C2, Trương Quốc C3 và Lê Minh Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, đúng như truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Là những công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, các bị cáo biết rõ việc pháp luật Hình sự bảo vệ tính mạng, sức khoẻ công dân, trật tự an toàn xã hội, nhưng vẫn cố ý vi phạm, gây hoang mang, lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục giáo và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Hành vi của các bị cáo H là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Từ mâu thuẫn nhỏ nhặt phát sinh trong lúc nhậu giữa bạn nhậu của bị cáo là bị cáo T với những người thân trong gia đình, xô xát và đã được mọi người can ngăn, bản thân bị cáo hoàn toàn không có mâu thuẫn gì với bị hại, khi quay trở lại hiện trường, chứng kiến việc bị hại dùng khúc cây xông vào can ngăn nhóm bạn bị cáo đánh nhau với con trai mình là bị cáo Lê Minh Đ, bị cáo đã dùng dao sắc nhọn là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng hông phải, thấu bụng khiến ông T6 tử vong do mất máu cấp, gây đau thương mất mát cho gia đình nạn nhân, không gì có thể bù đắp được.

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thanh T, Trang Phi C2, Trương Quốc C3 và Lê Minh Đ là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Từ mâu thuẫn cãi vã nhỏ nhặt, các bị cáo đã cố ý dùng hung khí (dao, dây nịt, gạch đá) đuổi đánh nhau trên khu vực vỉa hè, gây náo loạn khu dân cư, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Các bị cáo Nguyễn Thanh T, Trang Phi C2, Trương Quốc C3 đồng phạm với vai trò giản đơn. Do vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi xã hội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, các bị cáo Phạm Công H, Nguyễn Thanh T, Trang Phi C2, Trương Quốc C3 đầu thú, bị cáo Lê Minh Đ có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú là lao động chính, hoàn cảnh gia đình khó khăn, thờ cúng liệt sĩ là bác ruột của vợ, theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

[5.1] Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại Lê Văn T6 yêu cầu bị cáo Phạm Công H bồi thường 400.000.000 đồng, gồm 166.000.000 đồng chi phí mai táng cho bị hại và 234.000.000 đồng tổn thất về tinh thần tương đương 100 tháng lương cơ bản. Gia đình bị cáo H đã nộp thay bị cáo 30.000.000 đồng khắc phục hậu quả tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

[5.2] Bị cáo Phạm Công H đồng ý với mức yêu cầu bồi thường do đại diện hợp pháp của bị hại nêu ra tại phiên toà vì đây là các chi phí hợp lý theo quy định của pháp luật, tiếp tục bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho đại diện hợp pháp của bị hại Lê Văn T6 là bà Phan Thị H1 370.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu đồng) ngoài số tiền 30.000.000 đồng đã nộp khắc phục hậu quả tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

[5.3] Thỏa thuận giữa bị cáo Phạm Công H với đại diện hợp pháp của bị hại về phần trách nhiệm dân sự trong vụ án trên cơ sở tự nguyện, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, không do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, không ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước và lợi ích chung của xã hội, cộng đồng hay người thứ ba, nên có cơ sở để Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 246 Bộ luật Tố tụng dân sự; trên cơ sở các Điều 584, 585, 591 Bộ luật Dân sự năm 2015 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tính mạng bị xâm phạm.

[6] Về xử lý vật chứng:

Cần tuyên tịch thu, tiêu hủy các vật chứng đang bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, vì không còn giá trị sử dụng:

  • 01 (Một) dấu vết màu nâu đỏ, nghi là máu;
  • 01 (Một) dấu vết màu nâu đỏ, nghi là máu;
  • 01 (Một) dấu vết màu nâu đỏ, nghi là máu;
  • 01 (Một) áo sơ mi vải, tay dài, sọc trắng xanh, trên cổ áo có chữ “Person For Men”, dính chất màu nâu đỏ nghi là máu;
  • 01 (Một) áo sơ mi vải, tay dài, sọc ca-ro vuông, màu trắng - xanh nhạt;
  • 01 (Một) mũ bảo hiểm màu xanh, loại nửa đầu, viền mũ và quai cài màu đen, có chữ “Nón Sơn”;
  • 01 (Một) con dao dài khoảng 20cm, cán màu đen, lưỡi dao bằng kim loại, một lưỡi sắt, mũi dọn, lưỡi dao dài khoảng 13cm, lưỡi dao có dính dấu vết màu nâu đỏ;
  • 01 (Một) con dao, loại dao phay, dài 41cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen, dài 29,5cm, vuông đầu, sắc một cạnh, chổ rộng nhất 7,2cm, cán dao dài 11,5cm, bằng gỗ màu vàng.

Đại diện hợp pháp của bị hại Lê Văn T6 được nhận 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) đang bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo luật định.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm Công H phạm tội “Giết người”; các bị cáo Nguyễn Thanh T, Trang Phi C2, Trương Quốc C3, Lê Minh Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”

1.1. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Công H 17 (Mười bảy) năm tù, tính từ ngày 22/11/2023.

1.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 04 (Bốn) năm tù, tính từ ngày 22/11/2023.

1.3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trang Phi C2 03 (Ba) năm tù, tính từ ngày 22/11/2023.

1.4. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trương Quốc C3 03 (Ba) năm tù, tính từ ngày 22/11/2023.

1.5. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Minh Đ 02 (Hai) năm tù, tính từ ngày 12/12/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 591 Bộ luật Dân sự; buộc bị cáo Phạm Công H tiếp tục bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Lê Văn T6 là bà Phan Thị H1 370.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu đồng) thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) dấu vết màu nâu đỏ, nghi là máu; 01 (Một) dấu vết màu nâu đỏ, nghi là máu; 01 (Một) dấu vết màu nâu đỏ, nghi là máu; 01 (Một) áo sơ mi vải, tay dài, sọc trắng xanh, trên cổ áo có chữ “Person For Men”, dính chất màu nâu đỏ nghi là máu; 01 (Một) áo sơ mi vải, tay dài, sọc ca-ro vuông, màu trắng - xanh nhạt; 01 (Một) mũ bảo hiểm màu xanh, loại nửa đầu, viền mũ và quai cài màu đen, có chữ “Nón Sơn”; 01 (Một) con dao dài khoảng 20cm, cán màu đen, lưỡi dao bằng kim loại, một lưỡi sắt, mũi dọn, lưỡi dao dài khoảng 13cm, lưỡi dao có dính dấu vết màu nâu đỏ; 01 (Một) con dao, loại dao phay, dài 41cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen, dài 29,5cm, vuông đầu, sắc một cạnh, chổ rộng nhất 7,2cm, cán dao dài 11,5cm, bằng gỗ màu vàng.

3.2. Bà Phan Thị H1 thay mặt các đại diện hợp pháp của bị hại Lê Văn T6, được nhận 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đang bảo quản.

Các vật chứng hiện đang bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, theo Biên bản giao nhận vật chứng số 57/BB-CTHADS ngày 09/4/2024 và B2 lại thu tiền số 0000329 ngày 16/7/2024.

4. Án phí sơ thẩm:

Bị cáo Phạm Công H nộp 18.700.000 đồng (Mười tám triệu bảy trăm nghìn đồng), gồm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 18.500.000 đồng (Mười tám triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Các bị cáo Nguyễn Thanh T, Trang Phi C2, Trương Quốc C3, Lê Minh Đ nộp mỗi người 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

5. Quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (30/7/2024), bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân câp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
  • tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh BR-VT;
  • - Công an tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh BR-VT;
  • - THAHS tỉnh BR-VT;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu (3): Văn phòng, Tòa Hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Bắc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự về tội giết người và gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 84/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Giết người và Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Công H và đồng phạm phạm tội Giết người, Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger