Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HSST

Ngày: 29/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Nguyễn Giảng Trường.
  2. Ông Nguyễn Thế Long.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Việt Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29/5/2024, tại trụ sở TAND huyện Yên Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2024/TLST-HS ngày 26/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXX-HS ngày 15/5/2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1998.

HKTT: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1965 và bà Chu Thị T, sinh năm 1968; Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Lò Thị N, sinh năm 2002; Bị cáo có 01 con sinh năm 2023.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

  • + Tại bản án số 13/2017/HSST ngày 17/01/2017 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong xử phạt Đ 26 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 19/9/2018, Đ đã chấp hành xong toàn bộ Bản án và được xóa án tích.
  • + Tại bản án số 176/2019/HSST ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong xử phạt Đ 26 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngày 04/12/2021, Đ đã chấp hành xong toàn bộ Bản án và được xóa án tích.
  • - Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/02/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

2. Nguyễn Bá C, sinh năm 1996.

HKTT: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Bá P, sinh năm 1971 và bà Nghiêm Thị N1, sinh năm 1975; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Lý Thị Kim N2, sinh năm 2001 đa ly hôn năm 2021; Bị cáo có 01 con sinh năm 2019.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: Tại bản án số 76/2018/HSST ngày 14/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong xử phạt Chiêu 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị can đã chấp hành xong toàn bộ Bản án và được xóa án tích.

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/02/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Bá C: Bà Quyền Thị Thu H1, sinh năm 1988 – Luật sư thuộc Công ty L – Đoàn luật sư thành phố H (có mặt).

* Bị hại: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1990; Trú tại: Khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (xin vắng mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Chu Thị T, sinh năm 1968; Trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
  • + Chị Lò Thị N, sinh năm 2002; Trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1998, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh và Nguyễn Bá C, sinh năm 1996, trú tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh là bạn với nhau. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 08/02/2024, Đ sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, lắp sim số 0932907040 gọi đến số điện thoại 0377.137.xxx lắp ở điện thoại nhãn hiệu OPPO của C rủ C đi chơi thì C đồng ý. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển kiểm soát (BKS): 99D1- 063.98 đến đón và chở C đến quán nước vỉa hè tại thôn N, xã L, huyện Y ngồi uống nước.

Cùng thời điểm này, anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1990, trú tại khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ - đen, BKS: 98L8 - 7942 đi qua và đánh rơi 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chất bột màu trắng từ trong túi quần bên trái phía trước đang mặc xuống đường. Anh D quay lại nhặt và cất vào túi. Đ nhìn thấy và cho rằng túi nilon anh D làm rơi là ma túy nên nói với C: “Đuổi theo thằng kia, trên tay nó cầm ma túy”. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô BKS: 99D1- 063.98 chở C ngồi sau đuổi theo xe của anh D. Khi đuổi đến gần vòng xuyến Công ty S (Đối diện ngân hàng B) thuộc thôn N, xã L, huyện Y, Đức vượt lên chặn đầu xe mô tô của anh D lại làm hai xe mô tô cùng đổ ra đường. Sợ Đ và C phát hiện túi ma túy đang cất giữ nên anh D vứt túi nilon màu trắng đựng ma túy đang cầm ở tay trái xuống đường. Đ nhặt túi nilon này lên cầm ở tay và hỏi anh D: “Cái này là cái gì”. Anh D trả lời là “Ma túy vừa mua”. Nghe anh D nói vậy, C và Đ dọa đưa anh D lên Cơ quan Công an. Anh D sợ nên xin C và Đức tha không đưa anh D đến Công an và nói: “Để em đưa cho các anh ít tiền uống nước”. Đ hỏi anh D: “Mày có bao nhiêu tiền”. Anh D nói: “Em còn mấy trăm trong túi”. Đ bảo: “Đưa cho bọn tao 5.000.000 đồng thì bọn tao cho về, nếu không bọn tao báo Công an”. Khi nghe Đ nói vậy, anh D bảo: “Để em vay thêm đưa cho các anh”. Sau đó, anh D gọi điện thoại cho anh Đỗ Xuân H2 sinh năm 1997, trú tại thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang (là em con nhà chú anh D) bảo anh H2 cho vay 700.000 đồng. Anh H2 đồng ý và chuyển số tiền trên vào số tài khoản 1017968169 tại Ngân hàng V của anh D. Sau khi nhận được tiền chuyển khoản, anh D đã chuyển khoản số tiền 700.000 đồng vào số tài khoản 7153866315918 tại ngân hàng M2 mang tên Nguyễn Văn Đ. Nhận được tiền, Đ yêu cầu anh D: “Phải đưa đủ 5.000.000 đồng, nếu không bọn tao sẽ báo Công an, vay đâu thêm tiền cho đủ năm triệu đi”. Chiêu cũng bảo: “Đi vay thêm đi”. Bị Đ và C đe dọa, anh D lo sợ bị Đ và C đưa lên Cơ quan Công an xử lý về việc tàng trữ ma túy nên anh D nói với C và Đ: “Các anh biết chỗ nào cắm xe máy không chỉ chỗ cho em để em cắm xe năm triệu đưa cho các anh”. Nghe anh D nói vậy, Đ dùng điện thoại của Đ gọi cho anh Nguyễn T1 sinh năm 1987, trú tại thôn P, thị trấn C, huyện Y nói: “Anh cầm cho thằng cu em của em con xe máy” thì anh T1 đồng ý. Sau đó, Đ bảo C điều khiển xe mô tô BKS: 98L8 - 7942 của anh D chở anh D đi đến thị trấn C. Đ điều khiển xe mô tô của Đ đi phía trước xe của C và anh D. Khi đến đoạn đường TL277 thuộc thôn P, thị trấn C thì Đ và C dừng xe lại. Đ bảo C đứng ngoài đường đợi. Đ điều khiển xe mô tô BKS: 98 L8 - 7942 của anh D chở anh D đến cửa nhà anh T1 thì gặp anh T1. Đ nói với anh D: “Muốn cầm xe bao nhiêu thì bảo anh em”. Anh D bảo với anh T1: Cho em vay năm triệu, em để con xe máy này làm tin, mai em mang tiền xuống Ngày 20 lấy xe”. Anh T1 hỏi giấy tờ xe thì anh D bảo giấy tờ để ở nhà. Do tin tưởng nên anh T1 đã đưa cho anh D vay số tiền 4.500.000 đồng. Anh D cầm tiền vay được và đưa lại cho Đ rồi cả hai đi ra chỗ Chiêu đang đứng đợi. Sau đó, C điều khiển xe mô tô của Đ chở anh D ra ngã tư thị trấn C và bảo anh D xuống xe. Còn C quay lại đón Đ. Đ chia cho C 2.600.000 đồng. Số tiền còn lại Đức giữ và tiêu sài hết. Sau đó, Đ và C đi về nhà. Trên đường đi, Đ làm rơi mất túi nilon nhặt được của anh D, không biết rơi ở đâu. Cùng ngày 08/02/2024, anh D đến Cơ quan Công an huyện Y trình báo sự việc bị Đ và C cưỡng đoạt tài sản. Sau đó, Đ và C đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đầu thú.

Về thu giữ vật chứng: Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, sau khi đầu thú Đ tự nguyện giao nộp: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS: 99D1- 063.98 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, lắp sim số 0932907040. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành kiểm tra điện thoại của Đ phát hiện nội dung chuyển tiền như đã nêu trên. Anh Nguyễn T1 sau khi biết việc anh D bị cưỡng ép vay tiền, gửi lại xe cho anh D đã tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen, BKS: 98L8 -7942.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra chứng minh được, chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 99D1-063.98 là của bà Chu Thị T sinh năm 1968 (là mẹ của Đ). Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS, màu đỏ - đen: 98L8-7942 là của anh Đồng Văn H3, sinh năm 1994 trú tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang (là bạn anh D). Là T và anh H3 cho Đ và anh D mượn xe để làm phương tiện đi lại, không biết việc Đ và anh D sử dụng vào những mục đích khác. Ngày 15/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y trả lại xe mô tô cho anh Đ và bà T là phù hợp.

Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax Đức sử dụng, quá trình điều tra chứng minh được của chị Lò Thị N sinh năm 2002 (là vợ của Đ). Ngày 08/02/2024, Đức lắp sim số 0932907040 của Đ vào điện thoại của chị N sử dụng để liên lạc với C rủ đi chơi và chị N không biết việc Đ sử dụng điện thoại của chị N.

Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO có lắp sim số 0377137820 của C, C đã đánh rơi mất ở đâu không rõ nên Cơ quan điều tra Công an huyện Y không thu hồi được.

Về bồi thường dân sự: Các bị can đã tác động để bà Chu Thị T là mẹ bị cáo Đ đại diện cho các bị cáo bồi thường cho anh D số tiền 5.200.000 đồng mà các bị cáo đã chiếm đoạt. Anh D đã trả cho anh T1 số tiền 4.500.000 đồng và trả cho anh H2 số tiền 700.000 đồng. Anh D không có yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại Cơ quan điều tra, các bị can Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Bá C đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.

Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số 76/CT-VKSYP ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Bá C về tội "Cưỡng đoạt tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Bá C lần lượt khai nhận: Nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, bị cáo có thực hiện những hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận thức rõ và thừa nhận hành vi của mình là phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

Quá trình điều tra, tại đơn xin xét xử vắng mặt bị hại là anh Nguyễn Văn D vắng mặt, quá trình điều tra anh D trình bày:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 08/02/2024, tại khu vực gần vòng xuyến Công ty S ở thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Bá C đuổi theo và nhặt được 01 túi nilong màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng của anh vứt xuống đường. Anh có cho Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Bá C biết đấy là gói ma túy mà anh vừa mua, sau đó Đ và C đã yêu cầu anh phải đưa tiền cho Đ và C nếu không sẽ báo Cơ quan Công an xử lý anh về việc có gói ma túy. Do bị đe dọa và sợ việc D và C sẽ báo Công an nên anh đã đưa cho Đ và C tổng số tiền 5.200.000đ. Sau khi sự việc xảy ra, đến nay phía gia đình các bị cáo đã tự nguyện bồi thường trả cho anh số tiền 5.200.000đ. Do vậy về trách nhiệm dân sự, anh không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự, anh đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Chu Thị T trình bày: Bà là mẹ của bị cáo Nguyễn Văn Đ. Sự việc xảy ra như quá trình điều tra đối với bị cáo Đ là đúng. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 99D1-063.98 là của bà. Bà T cho Đ mượn để làm phương tiện đi lại, không biết việc Đ sử dụng vào những mục đích khác. Hiện nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại xe mô tô cho bà nên bà không có yêu cầu gì. Sau khi sự việc xảy ra các bị cáo đã tác động đến bà T đại diện cho các bị cáo bồi thường cho anh D số tiền 5.200.000 đồng mà các bị cáo đã chiếm đoạt. Nay đối với số tiền này thì bà không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường trả lại cho bà.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Lò Thị N trình bày: Chị là vợ của bị cáo Nguyễn Văn Đ. Chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax Đức sử dụng là của tôi. Ngày 08/02/2024, Đức lắp sim số 0932907040 của Đ vào điện thoại của chị sử dụng để liên lạc với C rủ đi chơi và chị N không biết việc Đ sử dụng điện thoại của chị. Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax Đức sử dụng chị xin Hội đồng xét xử trả lại cho chị để làm phương tiện liên lạc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong sau khi phân tích, đánh giá tính chất, nguyên nhân, động cơ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo:

Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Bá C phạm tội Cưỡng đoạt tài sản.

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 20 tháng tù đến 22 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2024. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo Đ.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Bá C từ 18 tháng tù đến 20 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2024. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo C.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Trả lại cho chị Lò Thị N 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, số máy NG9E3LL/A, số IMEI 1: 352794274718214, số IMEI 2: 352794274825472, bên trong có gắn 01 chiếc sim Viettel só số seri: 8984048000932907049 của chị Lò Thị N.
  • - Lưu trong hồ sơ 02 đĩa CD hỏi cung bị cáo.

Tại phiên tòa hôm nay, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Bá C trình bày: Qua nghiên cứu hồ sơ, dựa trên kết quả thẩm tra công khai tại phiên tòa bà đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, trách nhiệm dân sự, vật chứng và các vấn đề khác. Riêng về mức hình phạt bà cho rằng mức đề nghị như vậy của đại diện Viện kiểm sát là cao, đề nghị HĐXX cho bị cáo C một năm tù nhưng cho hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát đối đáp, phân tích, căn cứ vào động cơ, mục đích, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo C gây ra và vẫn giữ nguyên mức đề nghị hình phạt đối với bị cáo C.

- Sau khi nghe ý kiến đối đáp của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo C vẫn giữ nguyên ý kiến bào chữa đã trình bày cho bị cáo C và đề nghị HĐXX xem xét quyết định.

Bị cáo C đồng ý với ý kiến bào chữa của Luật sư và không có ý kiến gì tranh luận bổ sung.

Bị cáo Đ, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Đ và bị cáo C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra, cùng thời gian, địa điểm phạm tội cũng như lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các tài liệu khác có trong hồ sơ. Nên đã có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 08/02/2024, tại khu vực gần vòng xuyến Công ty S thuộc thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Bá C đuổi theo và nhặt được 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng do anh Nguyễn Văn D vứt xuống đường. Sau khi được anh D cho biết đó là gói ma túy của anh D mua thì Đ và C yêu cầu anh D phải đưa tiền cho Đ và C, nếu không sẽ báo Cơ quan Công an xử lý anh D. Bị đe dọa, anh D sợ nên đã đưa cho Đ và Chiêu 5.200.000 đồng. Đ và C chia nhau mỗi người 2.600.000 đồng và tiêu sài hết.

Do vậy bản Cáo trạng số 76/CT-VKSYP ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Bá C về tội "Cưỡng đoạt tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Các bị cáo phạm vào tội nghiêm trọng được quy định trong Bộ luật hình sự. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho đời sống xã hội, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu riêng về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho người có tài sản, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo phạm tội ở nơi dân cư đông đúc thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý dùng thủ đoạn đe dọa sẽ tố giác hành vi phạm pháp, uy hiếp tinh thần của bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại với tổng số tiền là 5.200.000 đồng nên đã đi vào con đường phạm tội. Vì vậy phải đưa ra xét xử kịp thời để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.

[4] Xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án này thì thấy: Các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản nhưng không có sự bàn bạc, phân công và thống nhất từ trước. Do vậy đây là đồng phạm giản đơn, do vây bị cáo Đ và C sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự của mình tương xứng với tính chất, hành vi và nhân thân của từng bị cáo trong vụ án này.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, nhận thức được hành vi sai phạm của bản thân, các bị cáo đã đến Công an huyện Y đầu thú. Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo đã tác động để mẹ bị cáo Đ bồi thường cho người bị hại giúp các bị cáo. Vì vậy, các bị cáo Đ và C đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • - Về nhân thân: Bản thân Nguyễn Văn Đ đã hai lần bị kết án về thực hiện hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bản thân Nguyễn Bá C đã một lần bị kết án về thực hiện hành vi “Đánh bạc”. Mặc dù cả hai bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ hai bản án và được xóa án tích nhưng thể hiện 02 bị cáo là người có nhân thân xấu. Do vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải có có hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo các bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần phạt bổ sung 02 bị cáo một khoản tiền để sung Ngân sách Nhà nước mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, trước khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Bá C đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên cần miễn phạt bổ sung cho các bị cáo Đ và C là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Nguyễn Văn D và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Chu Thị T không yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết. Khi nào bà Tình yêu cầu giải quyết thì sẽ được thụ lý, giải quyết bằng một vụ án khác.

[6] Về vật chứng:

  • - Đối với chiếc điện thoại Iphone 12 Pro Max, màu xanh của chị Lò Thị N, bị cáo Đ không hỏi mượn chị N và chị N cũng không biết việc Đ sử dụng chiếc điện thoại này vào mục đích phạm tội. Bên cạnh đó tại phiên tòa hôm nay chị N có mong muốn được xin lại chiếc điện thoại này nên cần trả lại cho chị Lò Thị N 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, số máy NG9E3LL/A, số IMEI 1 : 352794274718214, số IMEI 2: 352794274825472 là phù hợp.
  • - Đối với chiếc sim số 0932907040 của bị cáo Đ, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
  • - Đối với 02 đĩa CD hỏi cung bị cáo cần lưu trong hồ sơ là phù hợp.

[7] Liên quan đến vụ án còn có:

  • - Liên quan trong vụ án có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của anh D. Theo anh D khai nhận túi nilon anh D vứt ở đường và bị Đ, C nhặt được là ma túy đá anh D mua để sử dụng. Tuy nhiên, anh D không quen biết người bán ma túy. Túi ma túy bị Đ nhặt được và đánh rơi mất, không biết rơi ở đâu. Đến nay, Cơ quan điều tra Công an huyện Y chưa thu giữ được túi ma túy này. Vì vậy, chưa có đủ căn cứ để xử lý anh D về hành vi: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cơ quan Công an tách hành vi của anh D ra để tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý anh D sau.
  • - Đối với anh T1 là người đã cho anh D vay số tiền 4.500.000 đồng và để lại chiếc xe mô tô BKS: 98L8 -7942 làm tin nhưng không biết việc Đ và C đe dọa bắt anh D vay tiền. Vì vậy, Cơ quan điều tra Công an huyện Y không xử lý đối với anh T1 là phù hợp.
  • - Quá trình điều tra xác định Đ và C có kết quả kiểm tra nước tiểu dương tính với M. Anh D có kết quả kiểm tra nước tiểu dương tính với M1. Tuy nhiên, Đ, C và anh D không nhớ mùa ma túy của ai, thời gian, địa điểm sử dụng ma túy. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn xử lý Đ, C và anh D về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy".

[8] Về án phí: Bị cáo C và Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Bá C phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản".

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Văn Đ 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Văn Đ.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Bá C 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Bá C.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tạm giam các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Bá C. Mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Trả lại cho chị Lò Thị N, sinh năm 2002; Trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, số máy NG9E3LL/A, số IMEI 1: 352794274718214, số IMEI 2: 352794274825472, bên trong có gắn 01 chiếc sim Viettel só số seri: 8984048000932907049.
  • - Lưu trong hồ sơ 02 đĩa CD hỏi cung bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Bá C: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • - Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • - Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án./..

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh, huyện Yên Phong;
  • - Công an huyện Yên Phong;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • - CÁC BỊ CÁO;
  • - Người TGTT khác;
  • - Lưu HS, VP;

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Ngô Xuân Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/HSST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 84/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ và Mẫn Bá C phạm tội cưỡng đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger