|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 84/2024/HS-ST Ngày: 27 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Đạt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Danh Tuất
Bà La Thị Thu Nga
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng -Thư ký TAND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Cù Hoàng Vũ-Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2024/HSST ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024, đối với:
I. Các bị cáo:
-
Nguyễn Minh Q, sinh năm 2005 tại: Bình Thuận; HKTT: Ấp T, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kết H và bà Lê Thị Ánh M.
Tiền sự; Tiền án; Nhân thân: 00.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2024. (có mặt)
-
Nguyễn Văn T, sinh năm 2003 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; HKTT: 25 N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Thợ hàn; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết X và bà Nguyễn Thu T1.
Tiền sự; Tiền án; Nhân thân: 00.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2024. (có mặt)
II. Bị hại:
Cháu Nguyễn Lê Ngọc H1, sinh ngày 30/12/2007; nơi cư trú: Tổ H, thôn P, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
2.1. Người đại diện hợp pháp cho cháu H1: Bà Lê Thị Thanh T2, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ H, thôn P, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
2.2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Lê Minh P-Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (có mặt)
III. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
-
Ông Hoàng Ngọc D, sinh năm 1965; nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
-
Ông Mai Trọng H2, sinh năm 1952; nơi cư trú: Tổ A, khu phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 4/2023 thông qua mạng xã hội facebook Tạ Tiến N, sinh ngày 07/11/2005 quen biết cháu Nguyễn Lê Ngọc H1 (viết tắt: Bị hại) và đã nhiều lần rủ bị hại qua nhà N chơi, tại đây cả hai đã giao cấu với nhau 04 lần.
Khoảng cuối tháng 4/2023 bị cáo Q thông qua mạng xã hội facebook quen biết bị hại, đến đầu tháng 5/2023 bị cáo Q rủ bị hại đi chơi và giao cấu với nhau 01 lần tại nhà nghỉ H4 ở khu phố P, thị trấn P, huyện X.
Khoảng cuối tháng 4/2023 bị cáo T thông qua mạng xã hội facebook quen biết bị hại; ngày 13/5/2023 bị cáo T rủ bị hại đi chơi và và giao cấu với nhau 01 lần tại nhà nghỉ H5 ở ấp T, xã P, huyện X.
Đến ngày 17/7/2023, bà Lê Thị Thanh T2 (Mẹ ruột bị hại) đến Cơ quan Công an tố giác hành vi giao cấu của N, Q và T.
Kết luận giám định số: 300/KLTDTE-PYBRVT ngày 28/7/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận:
Không có dấu sây sát da hay bầm tím trên cơ thể và vùng bẹn đùi hai bên; rách màng trinh ở vị trí 06 giờ, vết rách cũ (vết rách đã có trước thời điểm giám định ít nhất 07 ngày)
Không có tinh trùng trong dịch âm đạo; đang có thai (01 thai sống trong tử cung khoảng hơn 12 tuần).
Kết luận giám định số: 1232/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Bị hại và bé Nguyễn Ngọc Thiên  có quan hệ huyết thống mẹ - con.
Đối tượng N và bé Nguyễn Ngọc Thiên  có quan hệ huyết thống cha- con.
Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh Q và bé Nguyễn Ngọc Thiên  không có quan hệ huyết thống cha - con.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại Iphone 12, số máy MGJH3 VN/A, số IMei (sê ri) F17DF580F14 thu giữ của các bị cáo T.
Cáo trạng số 62/CT-VKSXM ngày 24/6/2024, VKSND huyện Xuyên Mộc đã truy tố: Nguyễn Minh Q và Nguyễn Văn T về tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 145 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Kiểm sát viên VKSND huyện Xuyên Mộc sau khi luận tội, vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX:
Áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38, Điều 50 BLHS;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Q từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai bốn) tháng tù. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38, Điều 50 BLHS;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 16 (Mười sáu) đến 20 (Hai mươi) tháng tù. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Ghi nhận việc bị cáo Q tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại số tiền 10 triệu đồng.
Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 12, số máy MGJH3 VN/A, số IMei (sê ri) F17DF580F14 thu giữ của các bị cáo T.
- Đại diện hợp pháp của bị hại xác định bị cáo Q đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 10 triệu đồng, nay đồng ý việc bị cáo tự nguyện bồi thường thêm số tiền 10 triệu đồng; bị cáo T đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 51.500.000 đồng, bị hại không yêu cầu gì khác với bị cáo T. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho cả 02 bị cáo.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đồng ý với ý Cáo trạng của Viện kiểm sát và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Đề nghị HĐXX ghi nhận việc bịc cáo Q tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại số tiền 10 triệu đồng.
- Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng VKSND huyện Xuyên Mộc truy tố; khi nói lời sau cùng các bị cáo chỉ xin HĐXX xem xét cho hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ của vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người liên quan, các tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ xác định: Tại nhà nghỉ H4 bị cáo Q đã giao cấu với bị hại 01 lần và tại Nhà nghỉ H5 bị cáo T đã giao cấu với bị hại 01. Tuy việc giao cấu được bị hại tự nguyện, nhưng tại thời điểm tháng 5/2023 khi các bị cáo thực hiện hành vi giao cấu thì bị hại mới khoảng 15 tuổi 04 tháng nên hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi” định tại khoản 1 Điều 145 BLHS.
[2] Về tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm sự phát triển lành mạnh và bình thường về thể chất, sinh lý, xâm phạm quyền về danh dự, nhân phẩm và không bị xâm hại tình dục của trẻ em nói chung và của bị hại nói riêng được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là thanh niên trưởng thành, đủ nhận thức để biết hành vi giao cấu với bị hại là vi phạm pháp luật, vi phạm truyền thống, quan niệm đạo đức, lối sống tốt đẹp, lành mạnh của dân tộc ta nhưng vẫn thực hiện. Vì vậy, Cáo trạng của VKSND huyện Xuyên Mộc truy tố các bị cáo về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi” quy định tại khoản 1 Điều 145 BLHS là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ các bị cáo đã thực hiện. Do đó cần có hình phạt tù có thời hạn tương xứng, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm tạo điều kiện cho các bị cáo được giáo dục, học tập và phấn đấu để trở thành người tốt hơn, biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng và nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt và không có tình tiết tăng nặng.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đã tỏ ra ăn năn, hối cải, thành khẩn khai báo; bị cáo Q đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 10 triệu đồng và tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại 10 triệu đồng; bị cáo T đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 51.500.000 đồng, đồng thời đại diện hợp pháp của bị hại có yêu cầu bãi nại (BL164), xin giảm nhẹ hình phạt cho cả 02 bị cáo; khi thực hiện hành vi tuy các bị cáo đã đủ 18 tuổi nhưng là thanh niên bắt đầu bước vào tuổi trưởng thành, nên suy nghĩ và hành động chưa đủ chín chắn để nhận thức sâu sắc về hậu quả của hành vi mình thực hiện; trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi khi sống buông thả, dễ dãi với nhiều người. HĐXX xét thấy việc cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là cần thiết.
[4] Về hình phạt: Như đã phân tích ở mục [2] và mục [3], việc xét xử và áp dụng hình phạt theo điểm khoản và điều luật đã bị truy tố là phù hợp với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Xét các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại xác định bị cáo Q đã bồi thường cho bị hại số tiền 10 triệu đồng, bị cáo T đã bồi thường cho bị hại số tiền 51.500.000 đồng; bị hại đồng ý về việc bị cáo Q tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại số tiền 10 triệu đồng, không yêu cầu bị cáo T bồi thường gì khác nên HĐXX ghi nhận.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại Iphone 12, số máy MGJH3 VN/A, số IMei (sê ri) F17DF580F14 thu giữ của bị cáo T. Xét đây là tài sản bị cáo T sử dụng vào việc nhắn tin hẹn bị hại đi chơi để thực hiện hành vi phạm tội nên HĐXX quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[7] Về các vấn đề khác:
[7.1] Ông Hoàng Ngọc D là chủ nhà nghỉ H5 cho bị cáo T thuê phòng; ông Mai Trong H3 là chủ nhà nghỉ H4 cho bị cáo Q thuê phòng. Ông D và ông H3 xác định cho bị cáo thuê phòng trong thời gian 01 giờ nên không ghi sổ, không kiểm tra giấy tờ tùy thân, không biết bị cáo thuê để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên không xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông D và ông H3 là phù hợp. Tuy nhiên việc “thiếu trách nhiệm để xảy ra hành vi xâm hại đến an ninh, trật tự, hành vi vi phạm pháp luật, hành vi trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc tại cơ sở kinh doanh trực tiếp quản lý” của ông D và ông H3 là vi phạm quy định tại điểm b khoản 4 Điều 12 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2024 nhưng CQCSĐT và Viện kiểm sát nhân dân huyện X chưa kiến nghị cấp/người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt là chưa bảo đảm tính răn đe của pháp luật, chưa bảo đảm việc phòng, chống tệ nạn xã hội, đặc biệt là phòng, chống xâm hại tình dục đối với trẻ em.
[7.2] Đối với xe mô tô 72G1-73313 bị cáo Q sử dụng chở bị hại đi nhà nghỉ để thực hiện hành vi giao cấu với bị hại; CQCSĐ xác định xe trên mẹ bị cáo cho bị cáo mượn để đi làm, không biết bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên không đề nghị xử lý đối với bà M và xe mô tô; do đó HĐXX không xem xét, quyết định.
[7.2] Đối với xe mô tô 72K1-769.19 bị cáo T sử dụng chở bị hại đi nhà nghỉ để thực hiện hành vi giao cấu với bị hại; CQCSĐ xác định xe trên của bị cáo nhưng bị cáo đã bán lấy tiền bồi thường cho bị hại nên không đề nghị xử lý đối với xe mô tô này; do đó HĐXX không xem xét, quyết định.
[7.3] Ông Hoàng Ngọc D (chủ nhà nghỉ H5) và ông Mai Trong H3 (chủ nhà nghỉ H4), Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại không ai đề nghị Tòa án triệu tập đối với họ. Xét ông D, ông H3 đã có lời khai tại hồ sơ vụ án phù hợp với lời khai của các bị cáo, bị hại tại phiên tòa; do đó HĐXX không triệu tập ông D, ông H3 tham gia phiên tòa.
[7.4] Tạ Tiến N, sinh ngày 07/11/2005 đã quan hệ tình dục với bị hại 04 lần dẫn đến có con. CQCSĐT và Viện kiểm sát xác định tại thời điểm phạm tội đối tượng N chưa đủ 18 tuổi nên không cấu thành tội “Giao cấu đối với người từ đủ 13 đến dưới 18 tuổi”, không xử lý hình sự đối với Nghĩa là phù hợp quy định pháp luật.
[8] Về hành vi, quyết định của cơ quan và người tiến hành tố tụng: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đồng thời khẳng định không bị ai đánh đập hay ép khai trái với ý chí của mình. Đối chiếu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Kiểm sát viên, VKSND huyện Xuyên Mộc trong quá trình điều tra, truy tố đã cơ bản thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS.
[9] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Xét về điều luật, tội danh, xử lý vật chứng cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo; đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung nên HĐXX chấp nhận. Tuy nhiên về hình phạt, xét các bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần xử phạt các bị cáo nhẹ hơn mức Kiểm sát viên đề nghị.
[10] Về án phí: Các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Số tiền 10 triệu đồng bị cáo Q tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại nên không phải chịu án phí.
[11] Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo và VKSND được quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định BLTTHS.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ vào: Các điều 260, 268, 269, 298, 299 của Bộ luật tố tụng hình sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh Q và Nguyễn Văn T phạm tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi”.
2. Về hình phạt:
2.1. Căn cứ khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Q 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2024. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
2.2. Căn cứ khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2024. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Minh Q tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại Nguyễn Lê Ngọc H1 số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự;
Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 12, số máy MGJH3 VN/A, số IMei (sê ri) F17DF580F14 thu giữ của các bị cáo T.
(Vật chứng nêu trên được Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 55/BB ngày 27/6/2024);
5. Về kiến nghị: Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Viện Kiểm sát nhân dân huyện X có văn bản trình cấp/người có thẩm quyền xử phạt đối với ông Hoàng Ngọc D (chủ nhà nghỉ H5) và ông Mai Trong H3 (chủ nhà nghỉ H4) về hành vi “thiếu trách nhiệm để xảy ra hành vi xâm hại đến an ninh, trật tự, hành vi vi phạm pháp luật, hành vi trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc tại cơ sở kinh doanh trực tiếp quản lý”.
6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Buộc các bị cáo Nguyễn Minh Q và Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Căn cứ các Điều: 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo, bị hại, người đại diện của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo và VKSND cùng cấp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày; VKSND cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 27-8-2024).
8. Về quyền yêu cầu thi hành án: Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự 2008;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Đạt |
Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi
- Số bản án: 84/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên phạt 13 tháng tù
