|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 84/2024/HS-ST Ngày 19 - 11 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Mai Xuân Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Hồng Thái
Ông Cao Trung Kiên.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên toà: Ông Đặng Trung Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại Phòng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 80/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐ-HSST ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Đào Văn T, sinh năm 1977. Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn F, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 06/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Xuân Đ, sinh năm 1946; con bà Phạm Thị T1, sinh năm 1947; gia đình có 4 chị em: Thiệp là con thứ ba; Họ và tên vợ thứ nhất: Phạm Thị L sinh năm 1980 (đã ly hôn); H và tên vợ thứ hai: Nguyễn Thị P sinh năm 1983; con: 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 25 tháng 9 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử phạt 8 (tám) năm 9 (chín) tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo bản án số 58/2024/HS-ST ngày 25/9/2024.
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 09 tháng 02 năm 2024 đến ngày 18 tháng 02 năm 2024, chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
2/ Nguyễn Thị P, sinh năm 1983. Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 9/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Diêm S năm 1948 (đã chết); con bà Trần Thị D sinh năm 1948; gia đình có 5 anh chị em, P là con thứ năm; Họ và tên chồng thứ nhất: Trần Văn T2 sinh năm 1975 (đã ly hôn); H và tên chồng thứ hai: Đào VănThiệp, sinh năm 1977; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 25 tháng 9 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử phạt 8 (tám) năm 3 (ba) tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo bản án số 58/2024/HS-ST ngày 25/9/2024.
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 09 tháng 02 năm 2024 đến ngày 18 tháng 02 năm 2024, chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1986. Trú tại: Xóm M, xã V, huyện T, tỉnh Nam Định. (vắng mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng: Anh Đào Văn Đ1 và ông Đào Xuân Đ, Anh Ngô Văn T3 và chị Lê Thị D1 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài, Đào Văn T nảy sinh ý định rủ vợ là Nguyễn Thị P lên mạng xã hội Zalo, Facebook, vào các hội nhóm độc thân ở Nam Định để kết bạn nói chuyện với những người đàn ông, chủ động hẹn hò gặp mặt, rủ đi nhà nghỉ để tâm sự và giả vờ quan hệ tình dục. Khi P cùng người đàn ông vào nhà nghỉ, T sẽ đến giả vờ đánh ghen, quay video rồi đe doạ, ép phải đưa tiền hoặc tài sản. Đồng ý với kế hoạch của T, P sử dụng ứng dụng Zalo trên điện thoại Samsung Galaxy A03s, tạo tài khoản tên “Nỗi Lòng Xa Xứ” kết bạn, làm quen với anh Hoàng Văn C, sinh năm 1986 trú tại xóm M, xã V, huyện T. Sau nhiều lần nói chuyện, P chủ động hẹn gặp C.
Khoảng 8 giờ 00 phút, ngày 05 tháng 02 năm 2024, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển số 18H2-5205 chở P đến khu vực gần nhà nghỉ D2, thuộc thôn N, xã T, huyện T. Đến nơi, T xuống xe đứng đợi, P điều khiển xe máy vào nhà nghỉ, thuê phòng 202, sau đó thông báo cho anh C đồng thời nhắn tin cho T số phòng. T cũng đến nhà nghỉ, thuê phòng 203. Khi anh C vào phòng gặp P, định quan hệ tình dục thì P trì hoãn, giả vờ đi xuống quầy lễ tân để lấy bao cao su. P ra ngoài, điện thoại cho T để vào giả vờ đánh ghen, quay video đe doạ. Khi quay lại phòng, P chủ động khép cửa nhưng không cài chốt, P lên giường để anh C ôm, cởi áo. Khi cả hai đang nằm trên giường, anh C không mặc quần áo, P không mặc áo thì T đẩy cửa đi vào phòng, trên tay cầm sẵn điện thoại Samsung A11 quay lại video cảnh P, C đang trên giường. Đồng thời T rút gậy ba khúc bằng kim loại chỉ vào anh C, P chửi, đe dọa. Thiệp hỏi tên, tuổi, địa chỉ của anh C, cầm chìa khoá xe máy của C xuống mở cốp xe lấy giấy tờ. Lúc này, P giả vờ nói: “Thôi anh đưa cho nó năm đến mười triệu cho xong đi”. Anh C không nói gì thì T tiếp tục chửi bới, đe dọa sẽ gửi video cho gia đình. Anh C xin T bỏ qua nhưng T không đồng ý. Vì không muốn làm ầm ĩ ở nhà nghỉ nên T yêu cầu anh C đến quán Cafe đường DT490C gần ngã ba T, xã T nói chuyện. T cầm theo điện thoại và đi xe máy của C đến quán cafe. Tại đây, T yêu cầu anh C gọi cho bố mẹ, gia đình lên để xin lỗi và bồi thường cho T. Anh C liên tục xin lỗi, xin bồi thường 5.000.000 đồng nhưng T không đồng ý, tiếp tục đe doạ sẽ gửi video về gia đình. T cầm theo điện thoại và đi xe máy của anh C ra ngoài.
Khi T đi được một lúc, P gọi vào điện thoại của C để C nói chuyện với T xin bỏ qua nhưng T yêu cầu anh C đưa 20.000.000 đồng. Một lúc sau T lên quán C1 thứ hai ở mặt đường DT490C cách ngã ba T, xã T khoảng 1km về thị trấn N, huyện N và yêu cầu anh C, P lên nói chuyện. Tại đây anh C tiếp tục xin Thiệp bỏ qua, C chỉ có 5.000.000 đồng để bồi thường, T không đồng ý. T yêu cầu anh C phải đưa 10.000.000 đồng. Do trong tài khoản ngân hàng của mình còn khoảng 7.000.000 đồng nên anh C xin 3.000.000 đồng nhưng T không đồng ý và yêu cầu anh C chuyển trước số tiền 7.000.000 đồng cho T. Thiệp cung cấp số tài khoản ngân hàng của mình nhưng anh C không chuyển được. Sau đó, T điện thoại cho em trai là Đào Văn Đ1 để hỏi mượn số tài khoản chuyển 7.000.000 đồng, còn 3.000.000 đồng T yêu cầu anh C chuyển sau. Sau khi đã chiếm đoạt được số tiền 7.000.000 đồng, T trả lại điện thoại và xe máy cho anh C rồi bỏ đi ra ngoài đứng đợi chở P đi về nhà.
Vật chứng thu giữ:
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển số 18H2-5205, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A11 màu xanh và 01 chiếc gậy rút ba khúc bằng kim loại của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03s của P là phương tiện, công cụ để T, P thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã tạm giữ và xử lý theo quy định.
Đối với số tiền 7.000.000 đồng T, P đã chiếm đoạt của anh C. Quá trình điều tra các bị cáo có nhờ ông Đào Xuân Đ2 (là bố đẻ T) khắc phục hậu quả, trả lại số tiền trên cho anh Hoàng Văn C. Anh C đã nhận đủ, không có yêu cầu gì khác.
Tại cơ quan CSĐT Công an huyện T các bị cáo Đào Văn T, Nguyễn Thị P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 75/CT-VKS-TN ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh truy tố Đào Văn T, Nguyễn Thị P về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Tuyên bố các bị cáo Đào Văn T, Nguyễn Thị P phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản".
Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Đào Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Tổng hợp hình phạt của bản án số 58/2024/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định buộc bị cáo T phải chịu từ 10 năm 09 tháng đến 11 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 02 năm 2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Tổng hợp hình phạt của bản án số 58/2024/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng buộc bị cáo P phải chịu từ 09 năm 09 tháng đến 10 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 02 năm 2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác.
Về vật chứng: Đã được giải quyết tại Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng nên không xem xét.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố vụ án đều đúng quy định pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; hình ảnh giao dịch chuyển tiền; biên bản ghi lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận:
Do không có tiền tiêu xài, Đào Văn T nảy sinh ý định, bàn bạc với vợ là Nguyễn Thị P lên mạng xã hội Zalo, Facebook vào các hội nhóm độc thân ở Nam Định kết bạn nói chuyện với những người đàn ông rồi chủ động hẹn hò gặp mặt sau đó rủ đi nhà nghỉ để tâm sự, giả vờ quan hệ tình dục. Khi đó T sẽ xông vào phòng giả vờ đánh ghen, quay video, đe doạ, ép phải đưa tiền hoặc tài sản để chiếm đoạt. Ngày 05 tháng 02 năm 2024, P hẹn gặp anh Hoàng Văn C đến nhà nghỉ D2 thuộc thôn N, xã T, huyện T để quan hệ tình dục. Tại phòng 202, khi P và anh C chuẩn bị quan hệ tình dục thì T đẩy cửa vào, tay cầm điện thoại quay video, tay lấy gậy ba khúc đe doạ, uy hiếp tinh thần để chiếm đoạt số tiền 7.000.000 đồng của anh C.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 170 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng VKSND huyện Trực Ninh đã truy tố đối với các bị cáo.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng vì hám lợi, lười lao động mà bất chấp hậu quả, xem thường pháp luật, cố tình thực hiện, do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của mình.
[3] Về vị trí vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Trong vụ án này, Đào Văn T là người khởi xướng, trực trực tiếp thực hiện tội phạm, Nguyễn Thị P là người trực tiếp tham gia thực hiện tội phạm nên vai trò như nhau.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: HĐXX xét thấy các bị cáo nhờ gia đình khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết nào.
[6] Về hình phạt: Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, xét nhân thân của các bị cáo, HĐXX xét thấy phải cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục cac bị cáo và phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Đào Văn T, Nguyễn Thị P phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
1. Căn cứ khoản 1 điều 170, điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Đào Văn T 02(hai)năm tù về tội “ Cưỡng đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt 08( tám) năm 09( chín) tháng tù tội “ Cướp tài sản” của bản án số 58/2024/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Buộc bị cáo T phải chấp hành hai bản án 10(năm)09(chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 02 năm 2024.
2. Căn cứ khoản 1 điều 170, điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Thị P 02 (năm) tù tội “ Cưỡng đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt 08(tám)năm, 03(ba)tháng tù tội “ Cướp tài sản” của bản án số 58/2024/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định buộc bị cáo P phải chấp hành hai bản án 10(mười) năm, 03(ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 02 năm 2024.
3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Đào Văn T, Nguyễn Thị P, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành dân sự./.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẢM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Xuân Mạnh |
Nơi nhận:
|
Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH về cưỡng đoạt tài sản (extortion)
- Số bản án: 84/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản (Extortion)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội cưỡng đoạt tài sản
