|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 84/2024/HSST Ngày: 05-9-2024. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hòa
Bà Lê Thị Thận
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Dương Thế Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 81/2024/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/ QĐXXST–HS ngày 20 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị N, sinh năm 1986, tại tỉnh Nghệ An
Nơi cư trú: Thôn B, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị K; Có 04 anh chị em ruột; chồng: Phạm Văn H đã ly hôn; Con: 01 người con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2024 đến ngày 03/6/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp Bảo lĩnh. (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1991
- Đặng Thị Ánh N1, sinh năm 1976
NCT: Khu phố F, phường A, thị xã B, tỉnh Đăk Lăk.
(Vắng mặt).
NCT: Khu Đ, thị trấn Đ, h. B, tỉnh Bình Phước.
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần vốn làm ăn, nên chị Nguyễn Thị Hồng P hỏi vay Nguyễn Thị N 500.000.000 đồng tại Thôn B, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước, thì N nói với chị P mức lãi suất là 10.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày (tức là một ngày phải trả lãi số tiền 5.000.000 đồng cho khoản vay 500.000.000 đồng) và nếu đến thời hạn mà chậm trả lãi sau 17 giờ chiều, chị P sẽ bị phạt thêm 01 ngày tiền lãi là 5.000.000 đồng, thời hạn vay là 05 ngày, từ ngày 13/9/2023 đến 17/9/2023. N đưa ra điều kiện như vậy, chị P đồng ý. Sau khi thỏa thuận xong, N mượn chị Đặng Thị Ánh N1 500.000.000 đồng (không thoả thuận lãi suất) để cho P vay.
Ngày 13/9/2023, N1 chuyển khoản 500.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng A số 5606555568888 đến số tài khoản 9994429999 ngân hàng V của chị P, rồi dùng điện thoại của mình nhắn tin bằng ứng dụng Zalo từ tài khoản “Ốc Bươu” đến tài khoản “Mi Mi” của P để hai bên xác nhận khoản vay. Sau đó, chị P không trả được tiền gốc 500.000.000 đồng, chỉ trả được khoản lãi vào các ngày sau:
Vào lúc 10 giờ 07 phút ngày 18/9/2023, chị P nhắn tin hỏi N1 số tiền lãi từ ngày 13/9/2023 đến 17/9/2023, thì N1 tính 05 ngày là 25.000.000 đồng và phạt chậm trả lãi 01 ngày là 5.000.000 đồng, tổng số tiền lãi phải trả là 30.000.000 đồng. Đến 17 giờ 06 phút ngày 18/9/2023, chị P chuyển trả tiền lãi 30.000.000 đồng vào số tài khoản 19038151338011 ngân hàng T của N1 với nội dung “E mi ck lai”, nghĩa là “em M chuyển lãi”. Như vậy, từ ngày 13/9/2023 đến ngày 17/9/2023, N1 đã tính mức lãi suất là 365%/1 năm, thu lợi bất chính là 28.630.137 đồng.
Do không trả được tiền gốc 500.000.000 đồng, nên chị P tiếp tục gia hạn thời hạn vay thêm 05 ngày, từ ngày 17/9/2023 đến 21/9/2023 với N1. Đến 17 giờ 11 phút ngày 22/9/2023, chị P nhắn tin hỏi N1 số tiền lãi từ ngày 17/9/2023 đến 22/9/2023, thì N1 cho biết 06 ngày là 30.000.000 đồng và phạt trả lãi trễ hẹn 01 ngày là 5.000.000 đồng, tổng số tiền lãi phải trả là 35.000.000 đồng. Đến 22 giờ 53 phút ngày 22/9/2023, chị P chuyển khoản 35.000.000 đồng vào số tài khoản ngân hàng T của N1, với nội dung “NGUYEN THI HONG PHUC chuyen tien”, nghĩa là Nguyễn Thị Hồng P chuyển tiền. Như vậy, N1 đã tính mức lãi suất là 365%/1 năm, thu lợi bất chính số tiền 33.356.164 đồng.
Sau khi đến hạn không trả được tiền gốc như thoả thuận và làm ăn không có lời, nên chị P đã trao đổi với N1 xin giảm tiền lãi, thì được N1 đồng ý. Đến ngày 03/10/2023, chị P chuyển khoản trả tiền lãi 12 ngày (từ ngày 22/9/2023 đến 03/10/2023) vào số tài khoản ngân hàng T của N1 với số tiền 40.000.000 đồng. Như vậy, N1 đã tính mức lãi suất cho vay là 243,3%/1 năm, thu lợi bất chính số tiền 36.712.329 đồng.
Đến ngày 10/10/2023, chị P tiếp tục chuyển trả số tiền lãi 08 ngày (từ ngày 03/10/2023 đến 10/10/2023) vào số tài khoản ngân hàng T của N1 số tiền 40.000.000 đồng, với nội dung “NGUYEN THI HONG PHUC chuyen tien”, nghĩa là Nguyễn Thị Hồng P chuyển tiền lãi. Như vậy, N1 đã tính mức lãi suất 365%/1 năm, thu lợi bất chính số tiền 37.808.219 đồng.
Do mất khả năng chi trả, nên ngày 12/3/2024 chị P đến Cơ quan CSĐT – Công an huyện B tố giác hành vi cho vay với lãi suất cao của N1. Cơ quan CSĐT – Công an huyện B phối hợp với Công an xã M kiểm tra hành chính tại nhà và làm việc với N1 đã tạm giữ: 01 giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 64 ngày 31/8/2020 (bản phô tô); 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số công chứng 4725 ngày 13/12/2021 (bản gốc); 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số công chứng 3362 ngày 12/09/2023 (bản gốc); 05 hợp đồng cho vay tiền (được soạn in sẵn giữa bên cho vay: Nguyễn Thị N và bên vay: Nguyễn Thị Hồng P); 01 giấy cho vay tiền ngày 16/10/2023 giữa Bùi Phi L1 và Nguyễn Thị Hồng P và 01 điện thoại di động. Đến ngày 13/3/2024 Cơ quan CSĐT – Công an huyện B tiến hành bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với N để điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Cáo trạng số 85/CT –VKS.BĐ ngày 15/8/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Nguyễn Thị N về Tội cho vay lãi nặng theo Khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Về hình phạt đề nghị:
Áp dụng Khoản 2 Điều 201; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị N từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Xử phạt bổ sung số tiền từ 30 đến 50 triệu đồng.
Về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo luật định.
Bị cáo Nguyễn Thị N thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để nuôi con nhỏ và có điều kiện khắc phục hậu quả.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra – Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Từ ngày 13/9/2023 đến ngày 10/10/2023, Nguyễn Thị N cho Nguyễn Thị Hồng P vay số tiền 500.000.000 đồng với mức lãi suất là 243,3%/1 năm và 365%/1năm cao gấp 12,1 lần đến 18,25 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền lãi bị cáo đã thu của chị P là 145.000.000.000đ, trong khi mức lãi suất cao nhất theo qui định của Bộ luật dân sự đối với số tiền gốc và thời gian như trên là 7.500.000đ; bị cáo đã thu lợi bất chính số tiền: 137.500.000 đồng.
Như vậy, mức lãi suất mà bị cáo cho vay đã vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Điều 468 Bộ luật dân sự quy định
“1. Lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay”.
Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị N đã phạm vào “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Số tiền thu lợi bất chính 137.500.000 đồng nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên” quy định tại Khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.”
2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, bị nhà nước nghiêm cấm nhưng vì hám lợi nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện; Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, cụ thể trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ được pháp luật bảo vệ và còn làm ảnh hưởng đến
uy tín, danh dự cũng như sức khỏe của người vay tiền và gia đình họ khi không có khả năng trả nợ, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đã gây ra.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện nộp số tiền 20.000.000₫ để bồi thường thiệt hại khắc phục một phần hậu quả; bị cáo có con còn nhỏ, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, một mình nuôi con nhỏ là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo có hoàn gia đình khó khăn, một mình nuôi con còn nhỏ; bị cáo cũng đã bị tạm giam thời gian dài; hiện đang là lao động chính trong gia đình, có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với mục đích của hình phạt, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Mặc dù bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhưng bị cáo đang ở độ tuổi lao động, nên cần xử phạt bổ sung đối với bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[6] Các biện pháp tư pháp:
Cần buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Hồng P phải nộp lại số tiền 500.000.000 đồng tiền mà bị cáo N sử dụng cho vay để sung công quỹ Nhà nước.
Cần buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải nộp sung ngân sách nhà nước số tiền tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà người bị cáo N đã thu của chị P từ ngày 13/9/2024 đến ngày 10/10/2024. Cụ thể là: 500.000.000 x (20%/12 tháng) x 27 ngày = 7.500.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 20.000.000₫ bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả theo Biên lai thu tiền số: 0004584 ngày 22/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Cần buộc bị cáo Nguyễn Thị N trả lại cho chị Nguyễn Thị Hồng P số tiền thu lợi bất chính từ việc cho vay là 137.500.000đ, được khấu trừ vào số tiền 20.000.000₫ bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả theo Biên lai thu tiền số: 0004584 ngày 22/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
sau khi đã khấu trừ số tiền 7.500.000 đồng nộp sung ngân sách nhà nước; Bị cáo còn phải nộp để trả lại cho chị P số tiền 112.500.000đ.
[7] Về vật chứng vụ án: Qúa trình điều tra Cơ quan CSĐT - Công an huyện B đã xử lý:
- + Trả 01 giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 64 ngày 31/8/2020 (bản phô tô); 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số công chứng 4725 ngày 13/12/2021 (bản gốc) cho bị can N.
- + Trả 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số công chứng 3362 ngày 12/09/2023 (bản gốc) cho chủ sở hữu hợp pháp Đặng Thị Ánh N1.
- + 05 hợp đồng cho vay tiền (được soạn in sẵn giữa bên cho vay: Nguyễn Thị N và bên vay: Nguyễn Thị Hồng P); 01 giấy cho vay tiền ngày 16/10/2023 giữa Bùi Phi L1 và Nguyễn Thị Hồng P là chứng cứ được đánh số bút lục trong hồ sơ vụ án.
Xét việc xử lý trả lại các vật chứng trên là đúng qui định của pháp luật nên được chấp nhận.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen là công cụ phục vụ cho việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[9] Vấn đề khác: Đối với số tiền bị cáo Nguyễn Thị N vay của bà Đặng Thị Ánh N1. Do bà N1 không yêu cầu giải quyết nội dung gì trong vụ án này nên không xem xét.
[10] Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiển sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Nguyệt p “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng Khoản 2 Điều 201; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Giao bị cáo Nguyễn Thị N về Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
2. Hình phạt bổ sung: Áp dụng Khoản 3, Điều 201 của Bộ luật hình sự, xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị N số tiền 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng).
3. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 của Bộ luật hình sự, tuyên:
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền lãi trong hạn theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự là 7.500.000 đồng (Bảy triệu, năm trăm nghìn đồng) đối với bị cáo Nguyễn Thị N, được khấu trừ vào số tiền 20.000.000₫ bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả theo biên lai thu tiền số: 0004584 ngày 22/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Thị N trả lại số tiền thu lợi bất chính chị Nguyễn Thị Hồng P là 137.500.000đ, được khấu trừ vào số tiền 20.000.000₫ bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả theo biên lai thu tiền số: 0004584 ngày 22/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước sau khi đã khấu trừ số tiền 7.500.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước còn lại 12.500.000đ; Bị cáo còn phải nộp số tiền 112.500.000đ (một trăm mười hai triệu, năm trăm nghìn đồng để trả lại cho chị P.
- - Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) bị cáo Nguyễn Thị N sử dụng vào thực hiện hành vi phạm tội cho chị Nguyễn Thị Hồng P vay nhưng chị P chưa trả cho bị cáo N đối với chị Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1991; NCT: Khu phố F, phường A, thị xã B, tỉnh Đăk Lăk.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen. (Theo biên bản giao, nhận vật chứng số: 0010168 ngày 26/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N2 quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (ĐÃ KÝ) Nguyễn Văn Huệ |
Bản án số 84/2024/HSST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 84/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự Nguyễn Thị Nguyệt phạm tội cho vay lãi nặng
