|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 84/2024/HS-ST
Ngày 28 tháng 11 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Thu Thủy, ông Nguyễn Hoàng Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Triệu Nhựt Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Quốc P (Phong H), sinh ngày: 11/12/2003; N sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Khóm V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 1982; Mẹ: Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1983; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/4/2024 đến ngày 13/11/2024.(Có mặt).
2. Lê Thanh T2, sinh ngày: 17/8/2003; Nơi sinh: Huyện L, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Nơi ở hiện tại: 242/43/5/1, A, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Cha: Lê Tuấn T3, sinh năm 1982; Mẹ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1981; Vợ: Tạ Thị Minh T4, sinh năm 2003; A, chị ruột: Có 02 người bị cáo là người thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/4/2024 đến ngày 13/11/2024. (Có mặt).
3. Lê Văn Trọng H1, sinh ngày: 31/5/2004; Nơi sinh : Huyện C, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp B, xã B huyện C, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Cha: Lê Văn L, sinh năm 1968; Mẹ: Lâm Hồng N1, sinh năm 1974; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Lê Văn Trọng H1 đang bị tạm giam từ ngày 27/8/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện C. (Có mặt).
Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo Nguyễn Quốc P: Ông Phan Văn H2 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Lê Thanh T2: Ông Nguyễn Phước H3 – Luật sư làm việc tại Văn phòng L2, thuộc đoàn Luật sư tỉnh A. (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1972; nơi cư trú: số C, hẻm E, tổ E, khu phố F, phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt).
Người làm chứng:
Nguyễn Thành L1, sinh ngày 22/8/2006; nơi cư trú: khóm M, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
Trương Hoàng H4, sinh ngày 10/10/2008; nơi cư trú: khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
Nguyễn Nhựt H5, sinh ngày 18/5/2008; nơi cư trú: khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang. (Có mặt).
Ngô Nhựt T5, sinh ngày 06/12/2009; nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện P, tỉnh An Giang. (Có mặt).
Tô Hữu T6, sinh năm 2004; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Có mặt).
Nguyễn Hữu P1, sinh năm 1977; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
Lý Duy K, sinh ngày 07/10/2007; nơi cư trú: khóm V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
Lê Nhân N2, sinh ngày 26/01/2007; nơi cư trú: ấp T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
Trần Nguyễn P2, sinh ngày 08/11/2007; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Có mặt).
Trương Chí T7, sinh ngày 10/01/2008; nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện P, tỉnh An Giang. (Có mặt).
Phan Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 06/8/2007; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 03/02/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại khu vực tuyến tránh Quốc lộ I thuộc ấp B, xã B, huyện C có nhiều đối tượng tụ tập đua xe và cổ vũ đua xe gây ùn tắc giao thông, làm mất an ninh, trật tự. Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số 02 thuộc Phòng C2 - Công an tỉnh A phối hợp Công an huyện C tiến hành kiểm tra. Khi phát hiện lực lượng Công an các đối tượng bỏ chạy, lực lượng Công an đã tiến hành tạm giữ 04 xe mô tô và mời Lê Thanh T2, Nguyễn Quốc P, Lê Văn Trọng H1, Tô Hữu T6, Phan Nguyễn Đăng K1, Trương Chí T7, Nguyễn Nhựt H5, Nguyễn Thành L1, Lê Nhân N2, Trần Nguyễn P2, Ngô Nhựt T5 về trụ sở làm việc.
Qua làm việc xác định: Thông qua mạng xã hội facebook và mối quan hệ, khoảng 23 giờ ngày 03/02/2024, T2, P, H1, T6, K1, T7, H5, L1, N2, P2, T5 cùng khoảng từ 40 đến 60 người tụ tập tại tuyến tránh Quốc lộ I, thuộc ấp B, xã B, huyện C để thực hiện đua xe và cổ vũ đua xe. Các xe mô tô của những người tham gia đã được thay đổi kết cấu như: móc bớt vĩ giảm âm, rút ống tiêu giảm âm thanh ở trong ống pô xe, tiện bớt phần xi lanh, sử dụng piston lớn hơn để tăng dung tích xilanh xe... người tham gia tự so kè, thách thức với nhau, tự phân loại xe phân khối lớn sẽ đua chung với nhau còn xe phân khối nhỏ sẽ đua chung với nhau. Đoạn đường đua dài khoảng 100 mét, mỗi lượt đua có từ khoảng 02 đến 03 xe mô tô, mỗi xe do 01 người điều khiển đua với nhau, các đối tượng tự thỏa thuận vào vị trí xuất phát, tự nẹt ga từ 02 đến 03 cái rồi tăng tốc, so kè tốc độ với nhau xem ai về đích trước, sau đó quay đầu chạy về vị trí xuất phát. Những người còn lại đứng 02 bên đường hò hét cổ vũ, chạy cất đầu xe. Khi bắt đầu mỗi lượt đua thì sẽ có người đứng ra chặn đầu tất cả các phương tiện tham gia giao thông tại điểm xuất phát từ hướng L về hướng C, gây ùn tắc giao thông làm nhiều phương tiện không thể lưu thông kéo dài khoảng 30 phút. Việc đua xe không ăn thua bằng tiền chỉ để chứng minh xe của ai chạy nhanh hơn. Cụ thể: P điều khiển xe mô tô biển số 67AD-031.56 tham gia đua 02 lượt, H1 điều khiển xe mô tô biển số 67AD-031.56 tham gia đua 04 lượt, T2 điều khiển xe mô tô biển số 70H1-5294 tham gia đua 03 lượt.
Ngày 07/02/2024, Ủy ban nhân dân xã B có Công văn đề nghị Công an huyện C, xử lý các đối tượng có liên quan theo quy định của pháp luật để đảm bảo tình hình chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Ngày 09/4/2024, Nguyễn Quốc P, Lê Văn Trọng H1 và Lê Thanh T2 bị khởi tố điều tra. Riêng H1 sau khi sự việc xảy ra đã lẫn trốn khỏi địa phương, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C ra quyết định truy nã, đồng thời tách vụ án, tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Đến ngày 27/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C bắt được H1, ra quyết định đình nã, phục hồi điều tra vụ án hình sự, phục hồi điều tra bị can để điều tra.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C tạm giữ:
- - 01 xe mô tô biển số 70H1 -5294 và 01 USB màu đỏ hiệu SAMDISK.
- - 01 xe gắn máy và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 67AC-124.77 mang tên Phạm Văn C1; 01 xe gắn máy và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 67AK-074.13 mang tên Nguyễn Thị Thu H6; 01 xe gắn máy và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 67AK-125.25 mang tên Nguyễn Trung H7; (đã chuyển cho Cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính xử lý theo thủ tục hành chính).
- - Tạm giữ và trả lại cho Nguyễn Thành L1 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu vàng.
Tại Cáo trạng số: 81/CT-VKSCP ngày 11 tháng 11 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc P, Lê Văn Trọng H1, Lê Thanh T2, về tội “Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt đối bị cáo Lê Văn Trọng H1 mức án từ: 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 27/8/2024.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc P mức án từ: 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Giao bị cáo cho UBND thị trấn C giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trong thời gian chấp hành án nếu bị cáo vi phạm nghĩa vụ của người được hưởng án treo từ 02 lần trở lên thì có thể buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án đã được cho hưởng án treo.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thanh T2 mức án từ: 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trong thời gian chấp hành án nếu bị cáo vi phạm nghĩa vụ của người được hưởng án treo từ 02 lần trở lên thì có thể buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án đã được cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với xe mô tô biển số 70H1 -5294 là phương tiện bị cáo Lê Thanh T2 thực hiện vào việc phạm tội.
Quá trình điều tra và phiên tòa các bị cáo Nguyễn Quốc P, Lê Văn Trọng H1, Lê Thanh T2 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án nêu trên, không có ý kiến tranh luận.
- Luật sư Nguyễn Phước H3 bào chữa cho bị cáo Lê Thanh T2: Luật sư nhận thấy tội danh xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và không oan sai. Tuy nhiên qua lời khai của các bị cáo thể hiện chỉ vì sự nông nổi, ham vui, bộc phát nhất thời mà bị cáo T2 đã thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng. Bị cáo T2 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Xét về hoàn cảnh gia đình thì bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con nhỏ 01 tháng tuổi, do vợ mới sinh con nên không thể đi làm được. Từ đó cho thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh khó khăn, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xem xét xử phát bị cáo 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, để giúp bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
- Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo Nguyễn Quốc P: Về tội danh xét xử đối với bị cáo P là đúng người, đúng tội và không oan sai. Tuy nhiên qua lời khai của các bị cáo thể hiện chỉ vì sự nông nổi mà bị cáo P đã thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, bị cáo P và các bị cáo khác không có sự bàn bạc, phân công hay chuẩn bị trước, chỉ vì ham vui, bộc phát nhất thời, bị cáo không tham gia ăn thua bằng tiền mà chỉ để biết xe ai mạnh hơn. Ngoài ra, bị cáo P có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Xét về hoàn cảnh gia đình thì bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang làm thuê, gia đình bị cáo khó khăn được UBND thị trấn cấp sổ hộ cận nghèo nhiều năm liền. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo để giúp bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
Bị cáo Lê Thanh T2, Nguyễn Quốc P đồng ý với lời phát biểu tranh luận của người bào chữa và không tranh luận bổ sung. Bị cáo Lê Văn Trọng H1 không bào chữa và có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng của các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Lê Thanh T2 không có yêu cầu nhận lại xe mô tô biển số 70H1 -5294.
Qua nội dung đối đáp, luật sư, trợ giúp viên pháp lý và đại diện Viện kiểm sát đều giữ nguyên quan điểm đã trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên toà, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng: L1, H4, P, K, N2, K1 vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 23 giờ ngày 03/02/2024, tại khu vực tuyến tránh Quốc lộ I thuộc ấp B, xã B, huyện C các bị cáo có hành vi tụ tập đua xe gây ùn tắc giao thông, làm mất an ninh, trật tự. Các xe mô tô của những người tham gia đã được thay đổi kết cấu như: móc bớt vĩ giảm âm, rút ống tiêu giảm âm thanh ở trong ống pô xe, tiện bớt phần xi lanh, sử dụng piston lớn hơn để tăng dung tích xilanh xe... người tham gia tự so kè, thách thức với nhau, tự phân loại xe phân khối lớn sẽ đua chung với nhau còn xe phân khối nhỏ sẽ đua chung với nhau. Đoạn đường đua dài khoảng 100 mét, mỗi lượt đua có từ khoảng 02 đến 03 xe mô tô, mỗi xe do 01 người điều khiển đua với nhau, các đối tượng tự thỏa thuận vào vị trí xuất phát, tự nẹt ga từ 02 đến 03 cái rồi tăng tốc, so kè tốc độ với nhau xem ai về đích trước, sau đó quay đầu chạy về vị trí xuất phát. Những người còn lại đứng 02 bên đường hò hét cổ vũ, chạy cất đầu xe. Khi bắt đầu mỗi lượt đua thì sẽ có người đứng ra chặn đầu tất cả các phương tiện tham gia giao thông tại điểm xuất phát từ hướng L về hướng C, gây ùn tắc giao thông làm nhiều phương tiện không thể lưu thông kéo dài khoảng 30 phút. Việc đua xe không ăn thua bằng tiền chỉ để chứng minh xe của ai chạy nhanh hơn. Cụ thể: P điều khiển xe mô tô biển số 67AD-031.56 tham gia đua 02 lượt, H1 điều khiển xe mô tô biển số 67AD-031.56 tham gia đua 04 lượt, T2 điều khiển xe mô tô biển số 70H1-5294 tham gia đua 03 lượt.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Đây là vụ án ít nghiêm trọng, do các bị cáo Nguyễn Quốc P, Lê Thanh T2 và Lê Văn Trọng H1 thực hiện. Trong vụ án này giữa Nguyễn Quốc P và Lê Văn Trọng H1 là đồng phạm với nhau, nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Các bị cáo nhận thức được hành vi đua xe là hành vi nguy hiểm gây mất an ninh trật tự tại địa phương, thực hiện hành vi vào ban đêm gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của người dân. Hành vi của các bị cáo thể hiện tính xem thường pháp luật. Tại thời điểm phạm tội các bị cáo là người có độ trên 18 tuổi nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Hiện nay, tình hình tội “Gây rối trật tự công cộng” diễn ra tương đối phức tạp các đối tượng thường hay tụ tập, sử dụng phương tiện là xe mô tô, xe gắn máy đã thay đổi kết cấu gú ga gây náo loạn cả một khu vực và gây mất an toàn cho những người tham gia giao thông khác làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự của địa phương. Vì vậy, mọi hành vi phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” cần phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Do đó, cần phải có mức hình phạt tương xứng tính chất, vai trò, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để bị cáo nhận thức được sai lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo xuất thân từ thành phần lao động nghèo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Riêng đối với bị cáo Lê Văn Trọng H1, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có hành vi bỏ trốn nhằm trốn tránh trách nhiệm, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã đối với bị cáo và bắt bị cáo theo quyết định truy nã vì vậy cần phải xem xét trách nhiệm của bị cáo nặng hơn các bị cáo khác.
Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tội phạm nghiêm trọng. Do đó, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã gây ra nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét thấy: Bị cáo T2 và bị cáo P trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải, là người có trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế, xuất thân từ thành phần lao động nghèo. Vai trò tham gia trong vụ án của bị cáo P và bị cáo H1 là đồng phạm giản đơn. Xét thấy, các bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào, nếu không bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, nên cần chấp nhận đề nghị của người bào chữa và đại điện Viện kiểm sát tại phiên tòa và cho hưởng án treo. Đây là cơ hội để các bị cáo phấn đấu sửa chữa lỗi lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đối với bị cáo H1 mặc dù có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có hành vi bỏ trốn nhằm trốn tránh trách nhiệm, Cơ quan điều tra đã ra quết định truy nã đối với bị cáo và bắt bị cáo theo quyết định truy nã vì vậy thuộc trường hợp không được hưởng án treo được quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ HĐTP15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
[4] Về xử lý vật chứng:
- Đối với xe mô tô biển số 70H1 -5294, theo phiếu trả lời xác minh xe ngày 26/7/2024 Công an huyện C, tỉnh An Giang xe mô tô biển số 70H1 -5294 chủ xe đăng ký là Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1972; nơi cư trú: số C, hẻm E, tổ E, khu phố F, phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Tại biên bản xác minh ngày 01/8/2024 của Công an P3, thành phố T bà Lương Thị Kim H8 xác định bà là vợ của Nguyễn Thành Đ, xe mô tô biển số 70H1 -5294 trước đây là do chồng bà đứng tên nhưng đã bán cách đây đã lâu nên không nhớ rõ bán cho ai, nay không có yêu cầu gì đối với xe mô tô. Bị cáo T2 khai xe mô tô biển số 70H1 -5294 là của bị cáo mua lại khoảng 3 năm, không có giấy tờ, không yêu cầu nhận lại xe. Xét thấy đây là phương tiện bị cáo Lê Thanh T2 thực hiện vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- 01 USB màu đỏ hiệu SAMDISK chứa đoạn video được trích xuất từ dữ liệu camera lắp đặt trên xe ô tô khách Phương Trang biển số: 51B-293.18 ngày 03/02/2024 có ghi nhận đoạn video tại tuyến đường quốc lộ 91 tuyến đường tránh thuộc xã B, huyện C, là chứng cứ của vụ án nên lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
- 01 xe gắn máy và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 67AC-124.77 mang tên Phạm Văn C1; 01 xe gắn máy và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 67AK-074.13 mang tên Nguyễn Thị Thu H6; 01 xe gắn máy và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 67AK-125.25 mang tên Nguyễn Trung H7 không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã chuyển cho Cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính xử lý theo thủ tục hành chính là có căn cứ.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu vàng không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra trả lại cho Nguyễn Thành L1.
[5] Đối với:
- Việc các bị cáo Nguyễn Quốc P, Lê Thanh T2, Lê Văn Trọng H1 có hành vi đua xe, nhưng mục đích là để xem xe nào mạnh hơn, không có người đứng ra lập kế hoạch, chuẩn bị phương tiện, địa điểm, sắp xếp, bố trí, lôi kéo người khác... để tiến hành việc đua xe, khi nhận được thông tin thì các bị cáo tự đến, tự bắt xe để đua, khi đua thì những người có mặt tự ý đứng ra chặn xe, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C không khởi tố các bị cáo về tội “Tổ chức đua xe trái phép” theo quy định tại Điều 265 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
- Trương Hoàng H4 cho bị cáo Lê Văn Trọng Hữu M mô tô biển số 67AD-031.56, nhưng H4 không biết H1 sử dụng để tham gia đua xe, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C không xem xét xử lý đối với H4 là có căn cứ.
[6] Về án phí: Bị cáo T2 và bị cáo H1 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo P được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Lê Văn Trọng H1, Nguyễn Quốc P, Lê Thanh T2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê Văn Trọng H1: 09 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 27/8/2024.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc P: 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 28/11/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Quốc P cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang là nơi cư trú của bị cáo giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo)
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê Thanh T2: 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 28/11/2024.
Giao bị cáo Lê Thanh T2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang là nơi cư trú của bị cáo giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với xe mô tô biển số 70H1 -5294 là phương tiện bị cáo Lê Thanh T2 thực hiện vào việc phạm tội.
(Đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú ngày 28/11/2024).
Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ 01 USB màu đỏ hiệu SAMDISK chứa đoạn video được trích xuất từ dữ liệu camera lắp đặt trên xe ô tô khách Phương Trang biển số: 51B-293.18 ngày 03/02/2024 có ghi nhận đoạn video tại tuyến đường quốc lộ 91 tuyến đường tranh thuộc xã B, huyện C được niêm phong trong bì thư.
3. Về án phí: Các bị cáo Lê Văn Trọng H1, Lê Thanh T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Quốc P không phải chịu án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Lê Văn Trọng H1, Lê Thanh T2, Nguyễn Quốc P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Hoàng |
Bản án số 84/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang về hình sự - gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 84/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc Phong và các đồng phạm phạm tội "Gây rối trật tự công cộng"
